BLOG

Áo Dài - chuyện Xưa chuyện Nay

Áo Dài - chuyện Xưa chuyện Nay

Áo dài xuất hiện từ lúc nào, chiếc áo dài đầu tiên hình dạng ra sao, vẫn còn là những tưởng tượng...

Tranh của bà de Bassilan vẽ một phụ nữ miền Nam mặc áo hai vạt trông rõ cả đường khâu nối hai thân ở chính giữa vạt trước, in kèm bài "Des habitants de la Cochinchine" viết ngày 8/1/1859, không đề tên tác giả, được in lại trong L'Indochine, Illustration.

Ảnh 1918, chụp các phụ nữ thời Nguyễn mặc áo năm thân, cổ áo không gài khuy, vấn khăn xanh lam hoặc xanh nõn chuối, quần đen. (Ảnh: Albert Kahn)

Khởi nguồn

Có truyền thuyết nói "Khi Hai Bà Trưng ra trận đã cưỡi voi, mặc áo hai tà giáp vàng, che lọng vàng, trang sức thật lộng lẫy...". Nhưng trong Việt Sử Tiêu Án, Ngô Thì Sĩ chỉ viết "Khi Bà Trắc ra quân, chưa hết tang chồng, mặc quần áo đẹp, các tướng thắc mắc, bà trả lời: "Việc binh phải tòng quyền, nếu giữ lễ khiến dung nhan xấu xí là tự làm giảm nhuệ khí nên ta mặc đẹp để làm cho thế quân hùng tráng, lũ kia thấy thế tâm động, nhụt bớt chí khí tranh đấu thì ta dễ có phần thắng". Không có câu nào nhắc tới áo vàng, lọng vàng. Có lẽ người đời sau nghĩ là vua tất phải mặc áo vàng, song trong Lịch Triều Hiến Chương - Quan Chức Chí (tr 103) Phan Huy Chú lại viết: "Từ đời Lý, Trần về trước, mũ áo của vua thế nào không thể khảo cứu được. Còn như sắc áo thì hình như trước không có quy chế nhất định. Lê Đại Hành (980-1005) dùng thứ vóc đỏ, đến Lý Cao Tông (1176-1210) mới cấm nhân dân trong nước không được mặc áo sắc vàng, thế thì hoàng bào trước kia chưa phải là đồ dùng riêng của vua chúa". 

Lại có người cho áo tứ thân có từ đời nhà Lý, nhưng không đưa ra bằng chứng. Đến mũ áo vua chúa đời Lý mà Phan Huy Chú còn không tra cứu nổi thì làm thế nào biết dược y phục của dân đen? Đời xưa viết sử chỉ chú trọng đến vua chúa, các danh nhân và những biến cố quan trọng, không mấy ai lưu tâm đến y phục nhân dân.

Thế kỷ 17

- "Áo mớ ba, mớ bẩy": Thuở nhỏ tôi từng nghe nhắc đến áo mớ ba, mớ bẩy song chỉ được thấy mẹ tôi mặc áo mớ đôi hoặc mớ ba, chưa bao giờ trông thấy áo mớ bẩy. Đó là những chiếc áo dài mặc lồng vào nhau, áo ngoài thường màu sẫm như nâu, đen, có thể là hàng trơn hay dệt hoa bóng trên nền mờ hoặc ngược lại, những chiếc áo mặc trong toàn màu tươi vui như hồ thủy, hồng phấn, hoàng yến... Phong tục muốn dân chúng phải tỏ ra khiêm tốn trong cách ăn mặc, áo ngoài phải dùng những màu nhã nhặn, không được khoe khoang, lộ liễu, áo màu lòe loẹt thì phải giấu bên trong.

Áo mớ ba mớ bẩy

Sau này, tình cờ tôi đọc Relation de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine (1631) của Giáo sĩ C. Borri mô tả y phục phụ nữ miền Nam gồm nhiều áo khác màu lồng vào nhau nên đoán có lẽ chính là loại áo mớ ba, mớ bẩy. Tuy vậy, có những chi tiết khiến tôi ngờ ngợ không chắc là áo dài, không rõ vì tác giả thiếu minh bạch hay người dịch sang tiếng Pháp không hiểu rõ tiếng Ý nên đã dịch sai bậy :"Y phục phụ nữ có lẽ nhã nhặn, kín đáo nhất so với (y phục) toàn thể Ấn vì nó không để hở một chỗ nào trên thân thể, ngay cả những khi trời nóng bức nhất. Họ mặc có đến năm, sáu lớp áo chồng lên nhau, mỗi cái một mầu. Cái ngoài cùng dài chấm đất, kéo lê đi một cách trang trọng, quý phái, không ai có thể trông thấy ngón chân họ. Lớp áo thứ nhì nằm dưới, ngắn hơn lớp trước chừng 4 hay 5 ngón tay ("ngón tay" đo theo chiều ngang), lớp thứ ba lại ngắn hơn lớp thứ nhì, cứ đều đặn như thế... khiến cho tất cả các màu áo đều được trông thấy. Đây là phần dưới từ bụng trở xuống. Nửa trên là những chiếc áo ngắn ôm thân người, gồm các ô trắng và màu xen kẽ nhau như bàn cờ, mỗi lớp một màu khác, bên ngoài phủ một thứ hàng mịn và thưa khiến ta có thể dễ dàng trông suốt qua được. Tất cả những màu sắc hỗn độn ấy tiêu biểu cho mùa xuân tươi thắm, duyên dáng, đồng thời lại cũng rất trang trọng và nhũn nhặn. Nam giới cũng mặc năm, sáu lớp áo dài và rộng bằng lụa mịn đủ các mầu, ống tay dài và rộng (...). Từ thắt lưng trở xuống xung quanh cắt lôi thôi, thành thử khi ra đường gập cơn gió nhẹ, tất cả các màu sắc tung bay, quyện vào nhau trông chẳng khác gì những con công xòe đuôi khoe bộ lông sặc sỡ".

Các lớp áo bên ngoài bị cắt thành các dải dài bên dưới thắt lưng mà Giáo sĩ Borri nhắc đến chỉ là cái xiêm cánh sen nghê thường. Hoặc có nơi gọi là quầy bơi chèo, mà người xưa mặc trước ngực hay dưới thắt lưng bên ngoài áo dài. Người Huế gọi là áo lá tua. Xiêm này có ba hoặc bốn lớp dải lụa may chồng lên nhau. Lớp dải trong cùng dài nhất, rồi các lớp bên ngoài ngắn dần. Các dải này ngày nay được đơn giản hóa bằng cách may thưa, nhỏ hơn, và dính liền ba bốn lớp với nhau. Thỉnh thoảng vẫn thấy trang phục này mỗi dịp rước đình ở thôn quê miền Bắc, miền Trung Việt Nam, và trong phục trang múa cung đình ở Huế. Bức tượng Ngọc nữ tạc từ thế kỷ 17 ở chùa Dâu là minh chứng rõ nhất cho áo dài, các dải cánh sen lẫn cách vấn khăn mà giáo sĩ Borri đã mục diện từ bốn thế kỷ trước. Chiếc áo dài cũng như cách vấn khăn của bức tượng từ thời ấy cũng không khác gì bây giờ.

Giáo sĩ Borri cũng đề cập đến chiếc áo màu sậm của nam giới và sĩ tử lúc ấy tương tự như áo ngoài của các giáo sĩ đạo Công giáo thời bấy giờ. Nghĩa là giống chiếc áo dài năm thân của thời đại về sau này. Ông cho biết phần lớn đàn ông Việt đầu thế kỷ 17, nhất là giới sĩ tử đều mặc một cái áo dài lụa màu đen phủ ra ngoài các áo khác.

Năm 1819, khi thuyền trưởng Mỹ John White đến thăm Sài Gòn, cách ăn mặc ở đây vẫn giống như giáo sĩ Borri đã thấy ở Thuận Quảng từ hơn hai thế kỷ trước đó. Ông White có nhắc đến một thiếu nữ 16 tuổi mặc quần lụa đen và áo may sát người dài đến mắt cá chân. Ông cũng cho biết rằng đàn ông và phụ nữ Sài Gòn khi ấy ăn mặc giống nhau, với nhiều lớp áo dài khác màu. Chiếc áo trong cùng dài đến mắt cá chân, rồi các áo ngoài ngắn dần… Tuy nhiên, giống như bây giờ, lối ăn mặc kể trên chỉ dành cho tầng lớp thượng lưu. Còn phục trang của đại đa số người dân thì trang nghiêm hơn với màu sậm.

Ngày nay ta còn thấy vết tích kiểu áo này ở những bộ áo tế của nam giới, áo ngoài bằng sa mỏng màu lam hay đen trông suốt qua thấy rõ chiếc áo lót bằng vải trắng bên trong, và chiếc áo kép (đã có từ trước 1776, theo Lê Quý Đôn), mặt ngoài vẫn mầu đen hay nâu..., áo trong biến thành cái lót (doublure) vẫn dùng những màu sặc sỡ.

- Lê Triều Chiếu Lịnh Thiện Chính chép là năm 1665 có sắc lệnh: "Áo đàn ông thì có thắt lưng và quần có ống chân, áo đàn bà con gái thì không có thắt lưng, quần không có hai ống, từ xưa đến nay vốn đã có cổ tục như thế. Bọn hát xướng ở hý trường thì không theo cấm lệnh này. Ai trái lệnh (...) bắt được quả tang sẽ phạt năm quan cổ tiền, nộp vào công khố".

- Tavernier trong Relation nouvelle et singulière du Royaume de Tunquin (1681) tả y phục phụ nữ miền Bắc là "trang trọng và nhã nhặn. Nam nữ mặc tựa như nhau. Áo dài chấm gót, giữa có buộc thắt lưng bằng lụa, xen lẫn kim tuyến và ngân tuyến, mặt trái mặt phải đều đẹp như nhau (...) Họ sản xuất rất nhiều tơ tằm, dân chúng giàu cũng như nghèo đều mặc tơ lụa". Ông còn vẽ cả tranh minh họa. Tavernier đã đi du lịch nhiều nơi nhưng chưa đặt chân đến Bắc kỳ, những chi tiết viết trong sách dựa vào sự hiểu biết của người em ông đã nhiều phen đến Đàng Ngoài, và những lần ông nói chuyện với người Bắc mà ông gặp ở Batavia.

Thế kỷ 18

Cũng vì thế nên S. Baron, sinh trưởng ở Kẻ Chợ (Thăng Long), trong Description du Royaume de Tonquin, dịch sang tiếng Pháp năm 1751, tuy công nhận dân Việt thời ấy, giàu hay nghèo, đều mặc tơ lụa vì giá rất rẻ, nhưng chỉ trích Tavernier là viết sai sự thật. Theo Baron thì y phục người Việt là những chiếc áo dài, tựa như áo Trung Quốc, hoàn toàn khác với áo Nhật Bản. Tranh của Tavernier vẽ cho thấy người Việt có dùng thắt lưng, đó là điều hoàn toàn xa lạ đối với họ. Baron là con lai, mẹ người Việt, tất hiểu rõ phong tục Việt Nam hơn.

Một số người viết về lịch sử áo dài đại khái như sau: "Chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1739-65) được coi là người có công khai sáng và định hình chiếc áo dài Việt Nam. Cho đến thế kỷ 18 người Việt thường hay bắt chước lối ăn mặc của người phương Bắc (Trung Quốc). Để gìn giữ bản sắc văn hóa riêng, Vũ Vương ban hành sắc dụ về ăn mặc, lấy thể chế áo mũ trong Tam Tài Đồ Hội làm kiểu mà tạo ra chiếc áo dài, cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong theo đó thi hành. Đại Nam Thực Lục Tiền Biên có chép sắc dụ này: "Thường phục thì đàn ông đàn bà dùng áo cổ đứng, ngắn tay, cửa ống tay rộng hay hẹp tùy tiện. Áo thì hai nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn, ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thì được phép". Và còn thêm là Lê Quý Đôn, trong Phủ Biên Tạp Lục, chép rằng Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã viết những trang sử đầu cho chiếc áo dài như vậy. Do đó có thể khẳng định chiếc áo dài với hình thức cổ truyền, cố định đã ra đời".

Tôi thấy không ổn ở chỗ Chúa Nguyễn muốn giữ "bản sắc văn hóa riêng", bắt dân cải sửa lối ăn mặc cho khác người Trung Quốc mà lại lấy mẫu quần áo từ Tam Tài Đồ Hội của Trung Quốc thì không hợp lý. Tôi không còn hai bộ Đại Nam Thực Lục Tiền Biên và Phủ Biên Tạp Lục trong tay nên có nhờ người tìm hộ trong Đại Nam Thực Lục Tiền Biên đoạn nói về sắc dụ của Chúa Nguyễn nhưng không tìm ra. Tôi đến hiệu sách đọc bản dịch khác nhưng cũng không tìm thấy nên chỉ mua Phủ Biên Tạp Lục. Tuy nhiên, tôi lại thấy trong Lịch Sử: Xứ Đàng Trong của Phan Khoang những chi tiết khác hẳn:

   - Trang 616-617: Hoàng Ngũ Phúc, năm 1776, sau khi chiếm Thuận Hóa, đã ra lệnh :"Y phục bản quốc vốn có chế độ, địa phương này từ trước cũng tuân theo quốc tục. Nay dẹp yên biên phương, chính trị và phong tục phải được tề nhất. Nếu còn có người mặc quần áo kiểu người Khách thì nên đổi theo thể chế của nước nhà. May y phục thì theo tục nước mà thông dụng vải, lụa, duy có quan chức mới cho dùng xen the, là, trừu, đoạn còn gấm vóc và các thứ hoa rồng phượng đều không được theo thói cũ tiếm dùng. Thường phục thì đàn ông đàn bà dùng áo cổ đứng, ngắn tay, cửa ống tay hẹp hay rộng tùy ý. Áo thì từ hai bên nách trở xuông phải may kín, không cho xẻ hở. Duy đàn ông muốn mặc áo cổ tròn và hẹp tay cho tiện làm việc cũng cho, Lễ phục thì dùng áo cổ đứng tay dài, vải xanh lạt hay vải đen vải trắng tùy nghi. Còn viền cổ hay kết lót thì đều theo như hiểu dụ năm trước mà chế dùng".

  - Trang 615: tương truyền Đào Duy Từ (1572-1634) bầy mưu chống đối họ Trịnh, khuyên chúa Hy Tông bắt dân thay đổi tập tục cho khác dân Bắc như bỏ áo bốn thân, phô bầy yếm, mà mặc áo năm thân gài khuy, bỏ váy mặc quần v.v...

Và tác giả cũng cho biết là chép theo Vũ Biên Tạp Lục (Vũ hay Phủ cùng có nghĩa là "vỗ về" yên dân).

Tôi tìm trong Phủ Biên Tạp Lục, lại thấy có sự bất ngờ khác :

  - Trang 241 : "Năm Giáp Tý niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 5 (1744), Hiểu Quốc Công Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu. Áo mão chế theo sách Tam Tài Đồ Hội (...) "bắt con trai con gái hai xứ Thuận Hóa , Quảng Nam phải đổi cách ăn mặc, dùng áo quần như người Trung Quốc, cốt tỏ cho thấy sự thay đổi hẳn lề lối ăn mặc của người xưa. Đàn bà con gái hai xứ phải mặc áo ngắn, chật ống tay như áo của đàn ông (...). Chỉ trong khoảng hơn 30 năm thành thói quen, quên cả phong tục cũ" (tức phong tục miền Bắc).

  - Trang 242: "Năm Bính Thân (1776) (3), lập Nha môn Trấn Phủ, quan Hiệp trấn (Lê Quý Đôn) hiểu thị cho dân: "Y phục nước nhà xưa nay vốn đã có chế độ. Địa phương này trước kia đã tuân theo quốc tục (...) chính trị, phong tục phải thống nhất. Những ai hiện nay còn mặc y phục theo người Khách thì phải thay đổi theo quốc tục (...) Áo quần may bằng vải lụa thông thường. Quan chức mới được mặc xen sa, trừu, đoạn (...) Thường phục thì đàn ông đàn bà chỉ mặc áo ngắn tay, cổ đứng, cửa ống tay rộng hay hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu liền vào cho kín, không được hở hang. Đàn ông muốn mặc áo cổ tròn và cửa ống tay hẹp để tiện làm việc cũng được phép. Lễ phục phải dùng áo cổ đứng và ống tay dài hoặc dùng thứ may bằng vải mầu xanh chàm, mầu đen hay trắng tùy nghi. Những ai được dùng áo viền cổ và áo kép đều phải tuân theo hiểu thị từ năm trước mà chế dùng". Sở dĩ Lê Quý Đôn, Trấn thủ Thuận Hóa năm 1776, phải ra hiểu thị này vì dân chúng Thuận Hóa giầu có, bắt chước nhau ăn mặc xa xỉ, dùng các màu tươi đẹp.

  - Trang 13, trong bài Tựa Phủ Biên Tạp Lục: Lê Quý Đôn cho biết thêm những điều ông đã thực hành khi cai trị Thuận Hóa, đặc biệt về y phục: "Chuyển đổi cách ăn mặc dị dạng cũ để theo phong hóa chung của quốc triều (...) Khoan thứ cho một thời hạn trước khi bắt buộc ai nấy cùng phải thay đổi hẳn kiểu ăn mặc cũ".

Tôi tin Lê Quý Đôn hơn vì không những ông là người đương thời, người trong cuộc, mà các chi tiết đưa ra có đầu có cuối: vì Chúa Nguyễn bắt dân ăn mặc theo Trung Quốc (1744) nên hơn 30 năm sau (1776) khi Lê Quý Đôn vào trấn thủ Thuận Hóa mới cải sửa bắt dân trở lại quốc phục. Hoàng Ngũ Phúc là võ tướng chỉ đánh dẹp, việc cai trị là phận sự của quan văn.

Louis-Gabriel MULLET DES ESSARTS tả trong Voyages en Cochinchine 1787-1789 : "Áo của phụ nữ xẻ đằng trước từ trên xuống dưới, bắt tréo trước ngực và để lộ chiếc quần lụa. Tôi không dám chắc là họ không có giầy nhưng tất cả những người tôi gập đều đi chân đất, đàn ông cũng như đàn bà".

Thế kỷ 19

- Năm 1828 Vua Minh Mệnh xuống chiếu bắt phụ nữ bỏ váy mặc quần, đã làm đề tài cho bốn câu thỏ giễu cợt ai cũng biết :

Tháng tám có chiếu vua ra:
Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông,
Đi thì bóc lột quần chồng sao đang ?

- Michel Đức Chaigneau là con lai, mẹ người Việt, cha là một trong hai người Pháp làm quan với nhà Nguyễn thời Gia Long, Minh Mệnh. Sinh trưởng ở Phú Xuân, Chaigneau Đức viết trong Souvenirs de Huê khá tỉ mỉ về y phục phụ nữ "Vợ những người buôn bán hay công chức nhỏ thì mặc một áo vải ngắn, màu đen hay chocolat, quần lụa đen hay vải trắng. Dân chúng, thợ thuyền giới hạ lưu, đàn ông như đàn bà, ăn mặc rât tồi tệ. Đàn ông chỉ đánh một cái quần vải trắng hay màu cháo lòng, dài tới đầu gối, buộc ngang lưng bằng một cái giải rút dài, buông thõng hai đầu ở trước bụng... Có người mặc áo vải ngắn màu trắng hay nâu, thường là rách rưới, vá víu, dài chưa tới đầu gối, để lộ ống chân rám nắng. Phụ nữ ăn mặc cũng tựa như thế, chỉ khác áo dài hơn, ống tay áo rộng, quần và nón rộng hơn. Từng lớp trưởng giả sang trọng thì mặc áo mớ đôi bằng tơ lụa trông suốt qua được, quần lụa đến bụng chân".

Thái Đình Lan (1801-1859), người Đài Loan, năm 1835 đi thi Hương rồi về bằng đường thủy, gặp bão tố, trôi dạt tới Quảng Ngãi, năm sau mới theo đường bộ trờ về. Đi từ mùa thu năm trước đến mùa hè năm sau mới về đến Phúc Kiến, qua 14 tỉnh nước An Nam như Phú Xuân, Nghệ An, Thanh Hóa, Thường Tín, Lạng Sơn, Thái Bình... qua Trung Quốc rồi mới về được quê nhà. Ông viết quyển Hải Nam Tạp Trứ, ghi chép những điều mắt thấy tai nghe ở nước Nam. Về y phục ông cho biết :

- Trang 171: "Có hai quan chức đến áp mạn thuyền chúng tôi (để kiểm tra). Họ đều chít khăn lụa đen, mặc áo tay hẹp, quần lụa điều, đi chân trần (các quan Việt Nam đi đâu đều đi chân đất), áo mặc không phân biệt nóng lạnh, ngay giữa mùa đông cũng mặc áo quần lụa mỏng. Người quyền quý phần nhiều dùng hai màu xanh lam và đen; khăn chít đầu cũng thế, quần thì đều mặc quần lụa điều".

- Trang 243 :"Đàn bà ra ngoài buôn bán, để búi tó, chân đất, dùng vải đũi vấn quanh đầu, đội nón bằng đấu, mặc áo lụa đỏ thẫm, ống tay áo hẹp, áo dài chấm đất, không mặc váy, không thoa son phấn, tay đeo chuỗi ngọc, hạt mã não hoặc vòng đồng".

Áo giao lĩnh

Chưa rõ xuất hiện từ bao giờ, tôi tạm xếp vào thế kỷ 19 vì được coi là "xưa nhất", đã ra đời trước áo tứ thân, tuy không ai đưa ra bằng chứng cụ thể. Theo nhận định của người Trung Quốc, áo dài có xuất thân từ sườn xám. Tuy nhiên, sườn xám mới xuất hiện từ năm 1920 trong khi áo dài đã tồn tại hàng ngàn năm trước đó.

Áo giao lĩnh giống áo tứ thân, chỉ khác hai vạt đằng trước buông thõng, giao nhau chứ không buộc vào nhau ở trước bụng. Áo giao lĩnh được may rộng, xẻ hai bên hông, cổ tay rộng và thân dài chấm gót. Kiểu dáng sơ khai của chiếc áo dài là chiếc áo giao lĩnh bốn vạt từ 4 tấm vải, kết hợp với thắt lưng màu và váy đen. Kiểu áo này có cổ chéo gần giống với áo tứ thân. Áo giao lĩnh khoác ngoài yếm lót, mặc cùng váy đen và thắt lưng màu tương tự như áo tứ thân, chỉ khác là hai vạt trước buông thả chứ không buộc trước bụng. Có lẽ người ta thấy áo giao lĩnh "lụng thụng", bất tiện cho người làm việc lao động nên đoán sau đó mới chế ra kiểu áo tứ thân gọn ghẽ hơn. 

Sự xuất hiện của áo dài có nguồn gốc từ áo giao lĩnh, một kiểu dáng sơ khai của áo dài Việt Nam, đã xuất hiện từ năm 1744. 

Vào thời điểm này, vua Nguyễn Phúc Khoát đã lên ngôi và cai trị khu vực phía Nam. Miền Bắc được cai quản bởi chúa Trịnh ở Hà Nội, và người dân ở đây mặc áo giao lĩnh, trang phục mang nét tương đồng với người Hán. Để phân biệt giữa Nam và Bắc, vua Nguyễn Phúc Khoát đã yêu cầu phụ tá của mình vận quần dài bên trong một chiếc áo lụa. Bộ trang phục này kết hợp giữa trang phục người Hán và người Chăm. Có thể đây chính là hình ảnh của bộ áo dài đầu tiên trong lịch sử.

ao-giao-lanh_non-quai-thao

ao-giao-lanh

Hình ảnh người phụ nữ Việt mặc áo giao lĩnh đã được ghi lại trong tài liệu của Pháp. Áo giao lĩnh được xem là nguyên gốc của áo dài Việt Nam xưa.

Áo tứ thân

Là kiểu áo có bốn thân, hai thân của vạt sau nối sống theo chiều dọc, hai thân đằng trước buộc vào nhau ở trước bụng, để hở cho thấy yếm bên trong. Thắt lưng các mầu tươi thắm như hồng đào, hồ thủy, hoàng yến, xanh nõn chuối, lá mạ... luồn dưới vạt sau, buộc múi trước bụng rồi thả xuống. Cái thắt lưng này có thể là cái "ruột tượng" hay "hầu bao" hình cái ống dài, ngoài tác dung trang trí và giữ áo cho khỏi lòe xòe còn dùng để đựng tiền, bằng cách thắt một nút rồi đút tiền vào, lại thắt một nút khác để giữ cho tiền khỏi tuột ra, buộc vào lưng thì không sợ tiền rơi hay bị kẻ cắp. Có người giảng "tứ thân" tượng trưng cho phụ mẫu đôi bên, hai thân trước buộc vào nhau tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng thắm thiết, quấn quýt lấy nhau... Thú thật bây giờ tôi mới được biết những lời giảng giải uyên bác này. Thoạt nghe cũng thấy hữu lý nhưng tôi ngờ là do người đời sau bịa đặt thêm vào cho văn vẻ chứ không chắc người sáng chế ra áo đã nghĩ thế, trừ phi là bắt chước Trung Quốc. Nếu hai thân trước buộc vào nhau tiêu biểu cho tình nghĩa vợ chồng thắm thiết thế thì khi hai vạt áo (giao lĩnh) buông thõng, rời nhau ra, chắc hẳn tượng trưng cho hai vợ chồng đã ly thân? Thế thì áo giao lĩnh phải xuất hiện sau áo tứ thân, không ai ly dị trước khi yêu nhau thắm thiết! 

Theo các nhà nghiên cứu và các hiện vật tại các bảo tàng áo dài, áo dài tứ thân xuất hiện từ thế kỷ 17. Để tiện hơn cho việc đồng án, buôn bán vất vả, người xưa đã chế ra kiểu áo tứ thân gọn ghẽ với hai vạt trước rời nhau, có thể buộc lại, và hai vạt sau may liền thành một tà áo. Người xưa phải ghép hai vạt áo sau để tạo tà vì thời đó khổ vải chỉ rộng chừng 35 – 40cm. Là trang phục của tầng lớp bình dân, áo tứ thân thường được may từ vải tối màu để tiện cho công việc. Loại áo này thường được may màu tối, mang ý nghĩa tượng trưng cho 4 bậc sinh thành của hai vợ chồng.

Áo dài tứ thân (thế kỷ 17)

Áo đổi vai

Gần giống áo tứ thân, khác ở chỗ vạt sau không phải chỉ giản dị nối hai thân, mà mỗi thân lại gồm hai mảnh: phía trên vai mỗi thân có chắp một mảnh vải dài độ vài gang tay, nhưng đôi bên so le cái dài, cái ngắn chứ hai mảnh vai trái và vai phải không đều nhau, và thường là vải mầu đậm hơn thân áo, thí dụ áo mầu nâu non thì mảnh trên vai mầu nâu sẫm hay đen. Thời tôi, cũng như áo tứ thân, áo đổi vai đều bằng vải, do người miền quê mặc chứ không phải người thành thị.

Áo ngũ thân (thời Vua Gia Long)

Tiếp theo, trong thời vua Gia Long, xuất hiện áo dài ngũ thân. Áo dài này được may thêm một tà nhỏ để tượng trưng cho địa vị xã hội của người mặc. Phụ nữ thành thị ít phải lao động thường mặc áo ngũ thân để phân biệt mình với tầng lớp lao động nghèo. Áo dài ngũ thân có 4 vạt áo được may liền nhau thành hai tà trước và sau như áo dài truyền thống, và ở tà trước có thêm một vạt áo như lớp lót kín đáo, chính là vạt áo thứ 5. Hai vạt trước và sau đều do hai thân nối sống, dưới vạt cả đằng trước còn một vạt con nhỏ hẹp, dài bằng vạt cả. Ở lưng chừng vạt con khoảng ngang đầu gối, có đính một cái giải để buộc vào vạt cả, chỗ đường nối sống. Vạt rất rộng, trung bình là 80cm ở gấu áo. Gấu vạt trước áo được cắt dài hơn vạt sau, và được may võng để phần giữa gấu không bị thụng và ngực áo kéo vòng lên khi mặc. Cổ, tay và thân trên áo dài phụ nữ thời ấy thường ôm theo người, tà áo may rộng ra từ sườn đến gấu và không chít eo. Tay áo may nối phía dưới khuỷu tay. Sở dĩ áo phải nối thân và tay như thế là vì các loại vải tốt như lụa, sa, gấm, đoạn… ngày xưa chỉ dệt được rộng nhất là 40cm. Kiểu áo này có phom rộng, có cổ và thịnh hành đến đầu thế kỷ XX. Cổ áo chỉ cao khoảng 2cm cho phái nữ, và 3 đến 4cm cho nam giới. Nhưng phụ nữ Huế vẫn giữ cổ áo của họ cao khoảng 3 cm. Riêng ở miền Bắc từ thập niên 1910 – 1920, phụ nữ thích may thêm một cái khuyết phụ độ 3cm bên phải cổ áo và cài khuy cổ lệch. Cổ áo lệch sẽ hở ra tạo vẻ quyến rũ hơn, và cũng để khoe chuỗi hột trang sức quấn nhiều vòng quanh cổ, bên trong cổ áo.

Thời ấy, các vải áo màu đậm được dùng nhiều nhất. Mùa Thu, Đông dùng các loại gấm, đoạn. Xuân, Hạ dùng sa, vân. Vì màu nhuộm lấy từ chất liệu thiên nhiên của các loại vải dễ phai, vì thế người xưa không giặt các áo dài may bằng vải đắt tiền, thường dùng làm áo ngoài. Những chiếc áo này chỉ được phơi nắng một năm vài lần rồi ướp hương thơm bằng trầm hay hương bài trong tráp gỗ. Đa số áo dài ngày xưa đều may kép, tức là may một lớp vải lót dính liền bên trong. Nhất là khi áo được may bằng vải mỏng cho kín đáo. Áo kép này được mặc khoác lên áo dài thứ hai lót bên trong. Lớp áo lót bên trong thấm mồ hôi, vì thế được may bằng vải trắng để không sợ bị phai màu và dễ giặt. Hai lớp áo dài mặc cùng với cái áo cánh ở trong cùng tạo thành một bộ áo mớ ba.

Quần mặc cùng áo dài may rộng vừa phải, trên 30cm với đũng thấp. Thời đó, phần đông phụ nữ từ Nam ra Bắc đều mặc quần đen với áo dài, trong khi phụ nữ Huế lại chuộng quần trắng. Đặc biệt là giới thượng lưu ở Huế, cả nam lẫn nữ, hay mặc loại quần chít ba, nghĩa là dọc hai bên mép ngoài quần được may với ba lần gấp, để khi đi lại quần sẽ xòe rộng thêm

Ảnh cho thấy sự phân biệt tầng lớp trong một gia đình, chủ mặc áo ngũ thân, người hầu mặc áo tứ thân (1884-1885)

Ảnh cho thấy sự phân biệt tầng lớp trong một gia đình, chủ mặc áo ngũ thân, người hầu mặc áo tứ thân (1884-1885)

Thế kỷ XX

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Trịnh Bách, cho đến đầu thế kỷ XX, phần đông phụ nữ thành thị đều may áo dài theo thể năm thân, hay năm tà. Áo lùng thùng, quần đũng thấp, chỉ có màu nâu hoặc đen. Trong Nam thì có những lối mặc khác, áo nhiều màu hơn, nhưng thường thì màu vẫn không được tươi lắm. Khi kỹ thuật dệt vải được cải tiến và khổ vải được tăng chiều rộng từ 40cm lên ít nhất gấp đôi, nhiều nhà thiết kế áo dài lúc ấy, hầu như là họa sĩ, đã giản lược đi phần nối giữa sống áo để chỉ còn có ba thân. Áo dài ba thân ra đời từ đó.

Áo dài Lemur  (1934 – 1943)

Bước đột phá táo bạo, góp phần hình thành kiểu dáng của áo dài ngày nay chính là kiểu áo dài “Lemur” do họa sĩ Cát Tường sáng tạo vào năm 1939. Áo dài Lemur là tên được đặt theo tên tiếng Pháp của ông.

Áo dài Lemur

- Năm 1934, họa sĩ Nguyễn Cát Tường Lemur, một họa sĩ tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (khóa 1928-1933) đã đưa ra "bản tuyên ngôn" nói rõ quan niệm căn bản của ông về cải cách áo dài, trên tờ Phong Hóa: "Các nhà đạo đức thường nói quần áo chỉ là những vật dùng để che mưa nắng, nóng lạnh, ta chẳng nên để ý dến cái sang cái đẹp của nó làm gì (...). Theo ý tôi, quần áo tuy dùng để che thân thể song nó có thể là tấm gương phản chiếu ra ngoài cái trình độ trí thức của một nước. Muốn biết nước nào có tiến bộ, có mỹ thuật hay không, cứ xem y phục của người nước họ cũng đủ hiểu. Y phục của người các nước Âu Mỹ không những rất gọn gàng, hợp với khí hậu xứ họ mà kiểu mẫu lại rất nhiều và rất đẹp. Như thế đủ tỏ rằng họ có một cái trình độ trí thức rất cao, một nền văn minh rất rõ rệt và luôn luôn tiến bộ. Y phục của các bạn gái, tôi xem thấy có nhiều điều bất tiện mà lại không có vẻ chi là mỹ thuật. Tuy rằng vài năm gần đây cũng có một vài phần sửa đổi (...) chẳng qua chỉ ở mấy cái mầu sắc sặc sỡ, mấy thứ hàng lạ nước ngoài (...) còn thì vẫn kiểu áo lòe xòe ấy, vẫn cái quần lụng thụng đen ngòm ấy. Hoặc giả cũng có người ưa mặc quần trắng song tiếc rằng số đó vẫn rất ít (...). Cần sửa đổi dần.

Trước tiên, ông phân tích và trình bày những ưu, khuyết điểm của y phục phụ nữ đương thời, sau đó, ông đưa ra những đề nghị đổi mới cho thích hợp với thời tiết, thoải mái khi cử động, rộng rãi cho máu huyết lưu thông và tôn cao vẻ đẹp sang trọng, yêu kiều của người phụ nữ. Những mẫu y phục do ông thiết kế được đặt tên theo bút danh tiếng Pháp của ông: "Áo Lemur".

Số Xuân 11-2-1934 trên báo Phong Hóa, chủ bút Nhất Linh cho mở một mục mới có tên “Vẻ đẹp riêng tặng các bà các cô” do ông Cát Tường phụ trách. Ông đã có nhiều bài viết hướng dẫn việc làm đẹp của chị em như cách đánh phấn, tô son, cách sơn móng tay, cách tập thể thao để giữ vóc dáng đẹp..., nhưng quan trọng là ông xướng lên cuộc cải cách y phục phụ nữ và đã có một cuộc cải cách táo bạo nhất cho áo dài Việt Nam. Ông đưa yếu tố phương Tây vào áo dài. Trên tuần báo “Phong hóa” số 86, ra ngày 23-2-1934, với tựa đề “Y phục của phụ nữ”, họa sĩ Cát Tường đã đưa ra quan niệm của ông về cải cách áo dài: “Bộ áo các bạn gái rồi đây phải như thế nào? Trước hết, nó phải hợp với khí hậu xứ ta, với thời tiết các mùa, với công việc, với khuôn khổ, với mực thước của thân hình mỗi bạn, sau nữa, nó phải gọn gàng, giản dị, mạnh mẽ và có vẻ mỹ thuật và lịch sự. Nhưng dù thế nào, nó cũng phải có cái tính cách riêng của nước nhà mới được. Các bạn là phụ nữ Việt Nam, vậy áo của các bạn phải có một vẻ riêng để người khác khỏi nhầm các bạn với phụ nữ nước ngoài. Các bạn thử để ý nhận xem cái áo hiện thời của các bạn có điều gì bất tiện và thừa không? Trời sinh ra người, vốn sẵn dành cho các hình dáng riêng, chỗ nở chỗ thắt hợp với đủ phương diện mỹ thuật chứ chẳng phải là trơn tuột như cái hộp kẹo sìu hay ống bột Nestle. Bởi vậy áo mặc phải ăn với người, phải có đường lối văn minh thì vẻ đẹp ấy mới có thể để lộ ra ngoài được. Sau nữa kiểu mẫu phải tùy theo từng người mà thêm bớt. Ví dụ như áo người gầy phải nhiều nếp chếp (xếp ly) thêm mà áo người mập mạp phải cho lẵn thì trông mới mất vẻ khẳng khiu hay sồ sề. Muốn các bạn hiểu được những sự sửa sang hay thêm bớt đó thì từ kỳ sau, tôi sẽ lần lượt phô bầy những kiểu mẫu tôi đã nghĩ được…”.

Chính thức xuất hiện trên Phong hóa số ra ngày 23-3-1934, áo dài Lemur được thiết kế dựa trên dáng áo dài ba thân đã ra đời trước đó. Khác với phom dáng rộng truyền thống, áo dài Lemur ôm sát đường cong cơ thể với nhiều chi tiết Âu hóa như tay phồng, cổ khoét hình trái tim, đinh nơ. Áo dài Lemur có cổ tròn hay cổ lá sen, nhún bèo, hay khoét rộng để hở cổ, viền đăng ten. Vai áo may bồng hoặc không có tay, lưng để hở đến eo. Chiếc quần lĩnh dải rút được thay bằng quần loa cài khuy bên hông hoặc có dải buộc; ống quần bó sát từ hông đến đầu gối rồi từ đó xuống tới gấu thì xòe ra như hình cái loa.

Về màu sắc, ông chủ trương từ bỏ màu thâm nâu truyền thống. Áo dài Lemur thường mang những gam màu dịu nhẹ, thanh nhã và tươi sáng theo thẩm mỹ tinh tế của người châu Âu. Trong mỗi kiểu áo, ông đều ghi chú cẩn thận về loại vải, thời tiết, thích hợp với màu da hay dáng người nào. Qua từng kỳ báo, ông chỉ dẫn cho các chị em về cách ăn mặc hợp mốt, thuận lợi cho sinh hoạt hằng ngày. Để cổ vũ, ông phát động phong trào phụ nữ “Khỏe và đẹp”, khuyến khích chị em trong nước tập thể dục và chỉ dẫn cách trang điểm. Ông cũng tổ chức các chuyến trình diễn thời trang xuyên Việt, khắp từ Bắc vào Nam.

Thiếu nữ Hà Nội xưa với áo dài Lemur

Hoàng hậu Nam Phương mặc áo dài Lemur

Những đặc điểm cụ thể của áo dài Lemur :

  • Cổ áo : Cổ bẻ ra theo kiểu Tây phương, góc nhọn thì gọi là "cổ lưỡi dao", tròn gọi là "cổ bánh bẻ", cổ khoét hình quả tim, buộc giây..., đều mở ở giữa ngực, duy cổ lọ vai bồng mở ở vai bên phải, gài khuy từ cổ tới vai. 
  • Khuy áo bằng nhựa của Tây, hình vuông, tròn, bầu dục... và có hoa nổi hay chìm, đủ các mầu để chọn tùy theo mầu áo. Loại khuy bằng vải tết lại như Trung Quốc không dùng nữa nhưng tôi đã từng mặc áo loại khuy này, gài hay tháo rất khó vì vải rít chặt chứ không trơn như khuy nhựa. Khuy nhựa sau bị thay thế khoảng thập niên '50 bằng khuy giả ngọc trai do bà Lê Thị Lựu vẽ kiểu. 
  • Tay áo: Ông Cát Tường nhận xét là tay áo cổ truyền chật hẹp rất bất tiện mỗi khi co tay, và không hợp với khí hậu nóng bức...Tuy nhiên ông có vẽ một kiểu áo dạ hội tay cắt ngắn ở khoảng giữa cánh tay rồi đeo bao tay (gants) dài đến tận giữa cánh tay. Có người khen là trông "rất sang trọng", nhưng cũng có người mặc cảm thấy thay thế cái tay áo dài bằng cặp gants dài còn nóng bức và bất tiện hơn
  • Thân áo: Ông Cát Tường cho áo cổ truyền lụng thụng quá, cần phải ôm sát thân người mặc áo thì mới đẹp. Song quần áo không phải chỉ có mục đích che mưa nắng, nóng lạnh và có mỹ thuật như ông nói. Thời xưa, nó còn để che thân, người phụ nữ không được để thân thể lộ liễu cho người ngoài nhìn thấy. Chị cả tôi còn phải nịt ngực, lấy vải quấn quanh ngực mấy vòng, ép xuống cho ngực phẳng lì. Bà Bùi thị Xuân, khi bị Gia Long giam trong ngục trước khi đem hành hình, đã nhờ người mua lụa trắng quấn hết chân tay để khi bị tử hình (voi tung) thân thể có mỗi nơi một mảnh cũng khg bị bộc lộ ( Lemonnier de la Bissachère). Trên thực tế, áo Lemur chỉ ôm hờ thân người mặc chứ không ôm sát, cứ xem ảnh cưới của chính ông Lemur (1936) cũng thấy rõ cả cô dâu lẫn các cô phù dâu đều mặc áo Lemur nhưng nó không ôm sát thực sự như áo dài ngày nay, mà chỉ bớt lụng thụng nhờ cắt lượn theo thân hình chứ xếp nếp (plis) không sâu, có khi không có cả plis nữa. Năm 1952, tôi và các bạn vẫn còn mặc áo không chiết plis. Có thể vì ông Cát Tường chỉ vẽ kiểu yếm chứ chưa nghĩ đến vẽ soutien (có người dịch là "nịt ngực" e không đúng vì "nịt" có nghĩa là nén ép xuống trong khi soutien nâng ngực cho cao lên). Từ áo Lemur đến áo dài hiện đại có một khoảng xa cách không kém gì từ áo dài lụng thụng tới áo Lemur.
  • Viền tà: Tà áo cổ truyền phải mất 3 đường khâu và một cái nẹp dài để viền tà cho cứng cát, vạt áo sẽ đứng chứ không cong. Ông Cát Tường tung ra lối viền tròn bằng một thứ hàng và màu khác hẳn màu áo, giống kiểu viền quần áo ngủ pyjamas, đỡ tốn công hơn và lạ mắt. Màu viền tà cũng như màu khuy giống nhau. 

Năm 1937, để việc đổi mới y phục có kết quả tốt đẹp, những người phụ nữ muốn mặc áo dài tân thời được hài lòng, thấy mình đẹp hơn, duyên dáng hơn, mỹ miều hơn, họa sĩ Cát Tường khai trương Hiệu may LEMUR. 

Cải cách trang phục áo dài của Lemur đã thực sự mở ra một chương mới cho áo dài hiện đại, khiến nó trở nên quyến rũ, sang trọng hơn rất nhiều. Thành công lớn nhất của Lemur Nguyễn Cát Tường là đã góp phần thay đổi quan niệm mỹ thuật nói chung đối với y phục nữ giới. Sau này, nhiều họa sĩ tiếp tục cải tiến áo dài, dung hòa với kiểu áo cổ truyền dân tộc để tôn vinh nét đẹp duyên dáng của phụ nữ. 

Tuy vậy, chiếc áo “lai căng” này từng bị dư luận thời đó lên án mạnh mẽ, cho là không đứng đắn nên chỉ có giới nghệ sĩ phong cách tân thời mới dám mặc. Đến năm 1943 thì kiểu áo này dần bị lãng quên 

Áo Dài Lê Phổ

Áo dài ngũ thân (thời Vua Gia Long)

Áo Lemur tuy được hoan nghênh nhưng cũng bị chê là "lai căng". Theo Wikipedia thì ông Lê Phổ, cũng năm 1934, "đã sửa bớt những nét lai căng, đưa thêm các yếu tố dân tộc từ áo tứ thân, ngũ thân vào, tạo ra một kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm sát thân người, trong khi hai vạt dưới được tự do bay lượn, dung hợp hài hòa. Áo dài đã tìm được hình hài chuẩn mực của nó". Áo dài Lê Phổ là một sự kết hợp mới từ áo tứ thân và áo dài Lemur. Ông đã thu gọn kích thước áo dài để ôm khít thân hình người phụ nữ Việt Nam, đẩy cầu vai, kéo dài tà áo chạm đất và đem đến nhiều màu sắc mới mẻ, làm nó trở nên gợi cảm, tinh tế và thu hút hơn. Từ đó đến những năm 1950, phong cách áo dài Việt Nam đã trở nên vô cùng nổi tiếng trong truyền thống nước nhà. Theo Hoàng Huy Giang thì Lê Phổ "bỏ đi những nét Tây phương như không tay, tay phồng, cổ hở, không viền tròn vạt dài v.v...

Áo dài Lê Phổ thường kết hợp với quần ống loe màu trắng, một phong cách mà phụ nữ Việt đã ưa chuộng trong suốt thời gian dài. Mẫu áo dài này được coi như “vật tổ” của các loại áo dài sau này, đóng góp vào sự phát triển và truyền thống của trang phục truyền thống Việt Nam.

Áo Dài Lê Phổ là gì

Áo dài Lê Phổ

Bức "Đời sống gia đình" của họa sĩ Lê Phổ (1907-2001). Bức tranh lụa có kích thước 82 x 66cm được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1937-1939 (Ảnh: Sotheby).

“Áo dài Lemur” và “áo dài Lê Phổ”

Trong cuốn sách “Áo dài Lemur và Bối cảnh Phong Hoá & Ngày Nay” (Sách Khai Tâm, NXB Hồng Đức, tháng 12/2018), tác giả Phạm Thảo Nguyên đã làm rõ một hiểu nhầm liên quan đến “áo dài Lê Phổ” và “áo dài Lemur”. Tư liệu được ông Nguyễn Trọng Hiền – con trai của hoạ sĩ Lemur sưu tầm và bảo quản, cho thấy trong phong trào cải cách trang phục phụ nữ thời điểm đó, hoạ sĩ Lê Phổ thực tế chỉ tạo nữ trang và xuất bản trong đặc san “Đẹp” đầu tiên – Mùa Nực 1934 của hoạ sĩ Cát Tường.

Tuy nhiên, trong cuộc phỏng vấn “Bà Trịnh Thục Oanh nói về Thời Trang” của nhà báo Đoàn Tâm Đan, được đăng trong số báo đầu tiên của tờ “Ngày Nay” (30/1/1935), bà Oanh đã nói: “…Áo mùi, san trắng là “mốt” năm 1920. Năm đó đã xa rồi. Trong vòng mấy năm đó, chị em chỉ biết quanh quẩn tìm các mẫu vải để may quần áo để thay thế cho áo mùi màu đen tối tăm trước đây, nhưng vẫn chưa phù hợp với thân hình, không làm tôn lên vẻ đẹp đặc biệt cho từng người. Kiểu áo thích hợp với thân hình, kiểu áo trang nhã có thể biến hóa, hai nhà nghệ sĩ Cát Tường và Lê Phổ đã tạo ra cho chị em. Nhiều người đã theo đuổi, và kiểu áo này đã trở thành mốt mới…”

Trên tuần báo “Ngày Nay”, số 77 vào ngày 19 tháng 9 năm 1937, hiệu Marie đã quảng cáo “kiểu của hoạ sĩ Lê Phổ”, tuy nhiên không rõ liệu đó là kiểu áo do ông Lê Phổ tạo mẫu hay ông chỉ tư vấn lựa chọn các kiểu “áo dài Lemur” có sẵn trong đặc san “Đẹp”. Tuy nhiên, ông Hiền cho biết ông từng thăm vợ của hoạ sĩ Lê Phổ khi có dịp đến Paris, và bà đã khẳng định rằng hoạ sĩ Lê Phổ chưa bao giờ sáng chế hay vẽ kiểu áo dài.

“Áo dài Le Mur” và “áo dài Lê Phổ”

Áo dài Raglan

Cách may áo dài thời đó có một nhược điểm lớn là các nếp nhăn rất dễ xuất hiện ở hai bên nách. Những năm 1960, nhà may Dung ở Đakao, Sài Gòn đã đưa cách ráp tay raglan vào áo dài. Điểm khác biệt lớn nhất của áo dài Raglan là áo ôm khít cơ thể hơn, cách nối tay từ cổ chéo xuống một góc 45 độ giúp người mặc thoải mái linh hoạt hơn. Với cách ráp này, tay áo được nối từ cổ xéo xuống nách. Tà trước nối với tà sau qua hàng nút bấm từ cổ xuống nách và dọc theo một bên hông. Kiểu ráp này vừa giảm thiểu nếp nhăn ở nách, cho phép tà áo ôm khít theo đường cong người mặc, vừa giúp người phụ nữ cử động tay thoải mái, linh hoạt. Từ đây, chiếc áo dài Việt Nam đã được định hình. Sau đó còn kiểu mini va maxi raglan nữa.

Bản vẽ áo dài với tay raglan

Áo dài Bà Nhu (đầu những năm 1960): Một cải cách táo bạo và ý nghĩa

Đầu những năm 1960, bà Trần Lệ Xuân, vợ ông Ngô Đình Nhu, đã thiết kế ra kiểu áo dài hở cổ, bỏ đi phần cổ áo, hay còn gọi là cổ thuyền (bateau), cổ khoét và tay ngắn. Chiếc áo dài này nổi tiếng với tên gọi áo dài Bà Nhu và đã vấp phải phản ứng mạnh mẽ vì đi ngược với truyền thống và thuần phong mỹ tục của xã hội thời đó.

Tuy nhiên, áo dài Bà Nhu cũng là một cải cách quan trọng đáng kể. Trước đó, áo dài truyền thống thường có cổ đứng cao, gây khó chịu và bất tiện cho người mặc, đặc biệt là trong thời tiết nóng bức của Việt Nam. Áo dài Bà Nhu với cổ thuyền thoải mái đã giải quyết được vấn đề này, đồng thời giúp người mặc trở nên năng động và hiện đại hơn.

Về sau, áo dài cách tân xuất hiện đa dạng hơn với các thiết kế cổ áo thoải mái như cổ tim, cổ tròn, cổ thuyền, cổ vuông,… nhưng vẫn giữ trọn vẹn vẻ đẹp truyền thống vốn có. Nắm bắt kịp thời xu hướng thời trang mới, những nhà may áo dài nổi tiếng lúc bấy giờ như Thanh Khánh, Dung Dakao đồng loạt giới thiệu các mẫu thêu trên lụa hay vẽ hoa lá bắt mắt trên tà áo, đồng thời cập nhật nhiều họa tiết vải cùng màu sắc mới mẻ.

Không chỉ vậy, phụ nữ Sài Gòn cũng dần trút bỏ áo lót xiêm yếm truyền thống và thay bằng nội y phương Tây. Những mẫu áo ngực cúp ngọn thịnh hành trên thế giới vào thập niên 40 dần trở nên phổ biến ở miền Nam Việt Nam vào những năm 60.

Có thể nói, áo dài Bà Nhu là một sự khởi đầu cho những cải cách táo bạo và ý nghĩa đối với áo dài truyền thống. Nó đã góp phần giúp áo dài trở nên hiện đại và phù hợp hơn với cuộc sống hiện đại, đồng thời khẳng định được giá trị thời trang và văn hóa của trang phục truyền thống Việt Nam.

Bà Trần Lệ Xuân, người khởi xướng phong trào mặc áo dài cổ thuyền

Bà Trần Lệ Xuân, người khởi xướng phong trào mặc áo dài cổ thuyền

Phụ nữ Sài Gòn

(Ảnh: Harrison Forman)

Nhạy bén trong việc cập nhật xu hướng thời trang mới nhưng vẫn giữ trọn vẹn vẻ đẹp truyền thống vốn có đã góp phần “nâng tầm” gu thời trang của những quý cô Sài Gòn thời ấy. Họ xuất hiện đầy phá cách, “nổi loạn” trong tà áo dài thanh thoát, tóc bob đánh phồng, đầu cột khăn lụa và không quên đeo chiếc kính mắt mèo sang chảnh. Hình ảnh ấy như điểm giao thoa hoàn hảo giữa thời trang Đông – Tây thập niên 50. 

Áo dài chít eo – áo dài mini (1960 – 1970)

Những năm 1960, áo dài chít eo thách thức quan điểm truyền thống trở thành kiểu dáng thời thượng. Lúc này, chiếc áo nịt ngực tiện lợi đã được sử dụng rộng rãi. Phụ nữ thành thị với tư duy cởi mở muốn tôn lên những đường cong cơ thể qua kiểu áo dài chít eo rất chặt để tôn ngực.

Gần cuối thập kỷ 60, áo dài mini trở nên thịnh hành trong giới nữ sinh vì sự thoải mái, tiện lợi của nó. Tà áo hẹp và ngắn đến gần đầu gối, áo rộng và không chít eo nhưng vẫn may theo đường cong cơ thể.

ao-dai-1950-1965-5

Áo dài cổ trụ truyền thống

Áo ba tà

Vào thập niên '70, một số nhà may ở Sài Gòn tung ra kiểu áo ba tà gồm một vạt sau và hai vạt trước với nút gài từ cổ xuống eo mặc với quần ống voi.

Áo dài hiện đại (1970 – nay)

Sau những năm 1970, đời sống đổi mới đã khiến chiếc áo dài dần vắng bóng trên đường phố. Tuy nhiên, từ năm 2000 đến nay, chiếc áo dài đã trở lại với nhiều kiểu dáng, chất liệu khác nhau qua các bộ sưu tập đầy sáng tạo và phá cách của các nhà thiết kế Võ Việt Chung, Sĩ Hoàng, Thuận Việt… Không chỉ dừng lại ở kiểu dáng truyền thống, chiếc áo dài đã được cải biên thành áo cưới, áo tà ngắn để mặc với quần jeans, áo không cổ... Phần nhiều mặc áo trơn hay thêu chứ không dùng áo vẽ, và thêu gần kín ngực không còn chỗ để đeo nữ trang. Cũng có kiểu áo dài chui đầu, không khuy. Quần đồng mầu với áo hay mầu khác hẳn như đỏ, vàng, xanh...

Áo dài đã có sự biến đổi trong suốt các thời kỳ, từ áo giao lĩnh đến áo dài hiện đại, từ chiếc áo mặc hằng ngày đến biểu tượng quốc gia. Người phụ nữ Việt Nam khi khoác lên mình tà áo dài cảm xúc dâng trào niềm hãnh diện và tự tin. Áo dài cũng đã trở thành nền tảng cho những biến thể như áo cưới, áo cách tân và vẫn giữ được nét uyển chuyển, gợi cảm, và kín đáo, không trang phục nào có thể thay thế. Dưới tác động của xu hướng năng động và thay đổi lối sống hiện đại, áo dài truyền thống đã được các nhà thiết kế cách điệu với tà ngắn hơn, cổ áo và tay áo thay đổi, thậm chí có những sáng tạo với tà áo hoặc quần mặc chung với áo dài, mang đến nhiều sự lựa chọn cho phụ nữ Việt. Sự cách điệu này đã khiến áo dài trở nên phổ biến hơn trong đời sống hàng ngày của phụ nữ Việt Nam. Ta có thể thấy những tà áo dài đầy màu sắc, độc đáo với nhiều kiểu dáng mới lạ xuất hiện không chỉ trong văn phòng, chốn chùa chiền linh thiêng mà còn khi đi dạo phố.

Ngày hôm nay, nhiều phụ nữ chọn áo dài là trang phục hằng ngày. Tà áo dài ấy hợp với khí hậu xứ ta, với thời tiết các mùa, với công việc, với khuôn khổ, mực thước của thân hình mỗi chúng ta, tôn lên được nét uyển chuyển, gợi cảm, và kín đáo, không trang phục nào có thể thay thế. Sau nữa tà áo dài ấy gọn gàng, giản dị, mạnh mẽ và có vẻ mỹ thuật và lịch sự, định hình nên phong cách phụ nữ Việt trẻ trung, năng động, hoà nhập giữa sự đề cao tính cách riêng của nước nhà.

Với lịch sử phát triển dài lâu như vậy, áo dài Việt Nam đã hoàn thiện hơn bao giờ hết và trở thành biểu tượng không thể thiếu trong nền văn hóa Việt Nam, tôn lên vẻ đẹp và thanh lịch của người phụ nữ Việt. Áo dài không chỉ đơn thuần là một bộ trang phục đại diện cho một nền văn hóa, mà còn là nguồn cảm hứng bất tận cho nghệ thuật Việt Nam. Đây là biểu tượng sáng tạo không ngừng trong di sản văn hóa của dân tộc.

Nguồn tư liệu:

1. Áo Dài xưa và nay - Nguyễn Thị Chân Quỳnh http://chimviet.free.fr/quehuong/chquynh/chquynh_aodaixuanay.htm

Bài viết được trích nguyên văn từ tác giả. "Tôi" trong bài viết trên là Nguyễn Thị Chân Quỳnh

2. Tạp chí Harper Bazaar

Đang xem: Áo Dài - chuyện Xưa chuyện Nay

Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
0 sản phẩm
0₫
Đóng