BLOG

Lòng như gấm, miệng như thêu

Lòng như gấm, miệng như thêu

Cẩm tâm tú khẩu - Lòng như gấm miệng như thêu

Nghệ thuật thêu họa tiết trên trang phục đã đưa thời trang bước vào một 'thế giới vô tận' của sự sáng tạo. Bên cạnh tính thời trang, họa tiết thêu cũng mang ý nghĩa văn hóa đặc trưng cho mỗi quốc gia, mỗi triều đại, mỗi thời kỳ, mỗi thương hiệu. 

Hôm nay, chúng ta cùng quay trở về ngày xa xưa một chút, khi nghề thêu được sinh ra, và những thăng trầm để môn nghệ thuật tinh hoa này luôn đứng một vị trí nhất định trong bản đồ nghệ thuật thế giới.

Lấy vải làm giấy, lấy sợi làm mực, lấy kim làm bút - kỹ nghệ thêu tay

 

No photo description available.

Nghề thêu tay truyền thống của Việt Nam

Ông tổ Lê Công Hành

Nghệ thuật thêu tay Việt Nam xuất hiện từ giữa thế kỷ XVII, kế thừa từ Trung Hoa. 

Trước thế kỷ 18, người Việt đã biết nghề thêu và làm lọng từ lâu. Sử cũ từng ghi vào thời Trần, vua quan quen dùng đồ thêu và lọng. Năm 1289, vua Trần đã gửi tặng vua Nguyên một đệm vóc đỏ thêu chỉ vàng, một tấm thảm gấm viền nhiễu. Tháng Giêng năm Quý Tỵ (1293), Trần Phu trong đoàn sứ nhà Nguyên sang Đại Việt có nhận xét: "Về phẩm hàm của các quan Đại Việt, ai cao ai thấp cứ nhìn vào lọng mà phân biệt. Hễ là khanh tướng thì đi ba cây lọng xanh, bậc thấp hơn thì đi hai lọng, rồi một lọng. Còn như lọng tía thì chỉ có những người trong hoàng tộc mới được dùng".

Tuy vậy, nghề thêu ở Đại Việt trước thế kỷ XVIII còn đơn sơ, quanh quẩn với những màu chỉ ngũ sắc và chỉ kim tuyến, làm những mặt hàng phục vụ cho vua, quan, cho nhà chùa (thêu mũ, mãng, triều phục, nghi môn, cờ phướn…). Trong ngôi mộ cổ đào được ở Vân Cát, Nam Hà, có niên đại khoảng thế kỷ 18, người ta thấy: bên cạnh cái quạt, có một túi trầu bằng gấm thêu kim tuyến, một túi đựng thuốc lào cũng bằng gấm thêu kim tuyến. 

Theo ghi chép, ông tổ nghề thêu của Việt Nam là cụ Lê Công Hành (18/01/1606 – 12/06/1661), sống thời Hậu Lê. Ông tên thật Trần Quốc Khái, người huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam (nay là thôn Quất Động, xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội). Tương truyền, từ nhỏ ông đã có tiếng ham học và hay chữ. Lớn lên, ông thi đỗ Tiến sĩ (vào khoảng triều vua Lê Thần Tông hoặc Lê Chân Tông). Sau khi ra làm quan, ông được triều đình bổ dụng vào các chức vụ từ biên quận đến triều đình, thăng dần lên hàng Thượng thư, từng được cử đi sứ nhà Minh. 

Năm Bính Tuất (1646), ông được cử đi sứ nhà Minh. Để thử tài sứ thần nước Nam, quan quân nhà Minh không dẫn ông đi đường chính mà lại dẫn theo đường tắt. Đến một vùng rừng núi và thung lũng thì hết lương ăn, ông bèn cho chặt tre, đan thành những cái dậm, sai quân lính xuống suối kiếm cá và lên rừng tìm trái cây. Nhờ vậy, đoàn sứ bộ của ta vượt qua quãng đường rừng núi mà vẫn khỏe mạnh như thường. Sau khi hoàn thành công việc ngoại giao, vua Minh muốn thử tài trí của sứ thần một lần nữa, bèn sai dựng một cái lầu cao chót vót rồi mời ông lên chơi. Trần Quốc Khái vừa lên tới nơi, quân Minh dưới đất cất thang đi. Ở trên lầu suốt một ngày, ông chẳng thấy ai đem cơm nước đến. Đưa mắt nhìn quanh, ông chỉ thấy có cái bàn thờ. Trước bàn thờ, hai cái lọng xanh, đỏ trông rất đẹp; trên cao treo bức nghi môn diềm màn thêu rồng phượng và nổi 3 chữ “Phật tại tâm” (Phật ở trong lòng). Ông Phật Di lặc, bụng to, sơn đen được đặt giữa bệ bàn thờ. Dưới chân bệ, một cái chum to đựng nước cúng và trong góc dựng hai cây tre, một con dao, hoàn toàn không có thức ăn. Một ngày trôi qua, bụng đói mà không có cơm ăn, chỉ có chum nước, ông nghĩ có nước uống tất phải có cái ăn. Quay ra ngắm bức tượng, tò mò xem thử xem nó làm bằng gì, ông lấy móng tay cậy vào lưng Phật thì thấy bật ra một mảng con, lấy tay bóp vụn ra được như bột. Ông đưa lên miệng nhấm thử thì thấy ngọt, hóa ra tượng làm từ bột bánh khảo (có tài liệu nói rằng tượng nặn bằng bột chè lam). Từ đó ngày hai bữa, ông cứ bẻ dần tượng Phật mà ăn. Ngồi không buồn quá, Trần Quốc Khái bèn chẻ tre, vót nan, quan sát kỹ cách làm lọng và nhập tâm các chi tiết. Khi đã biết cách làm lọng rồi, ông lại hạ bức trướng xuống, tháo các đường chỉ kim tuyến xem cách thêu, rồi lại dùng chỉ đó thêu vào. Lúc hoàn tất, ông ngắm nghía thấy nét chữ thêu giống hệt như cũ. Ăn hết pho tượng và uống gần hết chum nước, Trần Quốc Khái tìm cách xuống. Buổi chiều ngồi ngắm trời mây, thấy những con dơi xòe cánh chao đi chao lại như chiếc lá, ông nghĩ đến hai cái lọng cắm trên lầu, rồi ôm lọng nhảy xuống đất bình an vô sự. Trước tài trí ứng xử linh hoạt của sứ thần Đại Việt, triều đình nhà Minh vô cùng kính phục, bày tiệc lớn tiễn đưa đoàn sứ về nước.

Bằng sự tài trí và ứng xử ngoại giao không ngoan, sau khi về nước, Trần Quốc Khái được phong tước, thăng lên chức Công bộ thượng thư thái bảo, được đổi họ Lê nên mới có tên khác nữa là Lê Công Hành.

Sau khi về nước, ông truyền nghề lại cho con cháu và người dân làng mình, sau đó phát triển rộng ra các tỉnh khác, sang cả Bắc Ninh, Hưng Yên. Từ đó nghề thêu ở Quất Động được nhiều người biết đến nơi đây dần trở thành nghề truyền thống của cả vùng. Bên cạnh đó, ông cũng dạy lại cách làm lọng cho người dân. Nghề thêu và làm lọng ngày càng trở nên phát triển. Hậu duệ ông tiếp tục phát triển nghệ thuật này, khiến làng Quất Động trở thành trung tâm nghệ thuật thêu truyền thống.

Lễ giỗ tổ nghề của những làng sinh sống bằng nghề thêu tại Việt Nam thường được tổ chức vào ngày giỗ hàng năm của ông. Chỉ riêng tại Huế, lễ tế Tổ sư nghề thêu Lê Công Hành tại phổ Cẩm Tú - Huế lại được tổ chức vào ngày 22 tháng Giêng âm lịch hằng năm và ngày mồng 4 tháng Sáu âm lịch là ngày kỷ tổ.

Sau khi mất, ông Lê Công Hành được dân địa phương lập đền thờ và tôn làm ông tổ nghề thêu truyền thống của Việt Nam.
 

Nghệ Nhân

Thêu thùa không chỉ là một loại kỹ năng biểu hiện ra vẻ đẹp hoàn mỹ trên từng đường kim mũi chỉ, mà còn là một hình thức tu dưỡng đạo đức, lĩnh ngộ được nội hàm bên trong. Người nghệ sĩ chân chính phải dùng chính tâm để đạt được sự thanh tịnh, nội tâm thuần chính, tâm hồn an nhiên, vận dụng nhuần nhuyễn cả bàn tay và trái tim mới có thể tạo ra những tác phẩm hoàn mỹ.

Cho đến thời phong kiến, thêu tay là một trong những nghề phục vụ cho Vua chúa và giới Quý tộc. Sản phẩm thêu được hoàn thành bởi những chất liệu chỉ vải do công sức sáng tạo của những người nghệ nhân Việt Nam. Những sợi chỉ lúc đó được nhuộm bằng công thức thủ công với chất liệu hoàn toàn thiên nhiên như củ nâu, cây chàm, vỏ bàng, nước điệp, lá vông, đá mài, hoa hòe ... khiến cho người nước ngoài phải cảm phục để nhận định rằng: 

"Nhìn những màu nước nhuộm của các cô thợ thấy rất đơn giản không ngờ đến khi nhuộm xong đều đủ hết một bảng màu vô cùng lạ lùng tưởng như phù phép mới có được".  

Trong thời kỳ đó nghề thêu thường là do người phụ nữ Việt Nam đảm trách, theo quan niệm của Nho giáo, người con gái phải hoàn thiện được tứ đức: "Công, Dung, Ngôn, Hạnh":

“Trai thì đọc sách ngâm thơ, 

Gái thì kim chỉ thêu thùa vá may.” 

Những hình ảnh hiếm về người phụ nữ Việt đầu thế kỷ 20 (P7) | Giáo dục Việt  Nam

Làng nghề

Thêu Tay Huế - Diệu kỳ Tinh tế

Thời phong kiến, đại đa số phụ nữ cả nước đều biết thêu, tuy nhiên tập trung và có tính chuyên nghiệp từ lâu đời là ở Huế. Khi triều đại nhà Nguyễn xây dựng ở Cố Đô Huế, bà Hoàng Thị Cúc, mẹ Vua Bảo Đại, cùng với Nam Phương Hoàng Hậu đã kết hợp những ưu điểm của kỹ thuật thêu Châu Âu với những tinh hoa của nghệ thuật thêu Châu Á để biến nó trở thành nghệ thuật thêu của Cung Đình, gắn liền với những đặc điểm thùy mị, tinh tế, tỉ mỉ của người con gái xứ Huế. Các sản phẩm của họ không chỉ là trang trí, mà còn là biểu tượng của sự thịnh vượng và văn minh.

Nhiều nơi đã truyền lại cho con cháu những ngành nghề lạ lùng là vẽ hình bằng chỉ làm cho bông sen, bông tử nở trên lụa, làm cho bươm bướm lượn trên mặt nước trong xanh, người thợ thêu An Nam khéo léo hơn người thợ thêu Trung Quốc về đường kim mũi chỉ và cách pha màu sắc..."  - Gabrielle học giả người Pháp, chuyên nghiên cứu văn hóa Á Đông.

"Người thợ thêu Việt Nam tỏ ra rất khéo léo trong việc phân bổ màu sắc trên lụa, để có những bức tranh thêu hòa hợp không chát chúa".  - Hocquard soạn giả sách nói về nghề thêu cuối thế kỷ XIX nhận định

Trình diễn nghề Thêu, Đan lát và làm Diều xứ Huế

Tranh Thêu XQ - Nghệ Thuật Đỉnh Cao

Đầu thập niên 90, tranh thêu lụa Việt Nam dần dần vươn đến đỉnh cao nghệ thuật, khi công ty XQ bắt đầu thành lập. Vợ chồng nghệ sĩ, nghệ nhân Võ Văn Quân và Hoàng Thị Xuân đã vạch một hướng đi mới cho ngành nghề bằng cách kết hợp các đặc điểm của nghệ thuật hội họa, với những tinh hoa của kỹ thuật thêu cổ truyền mà chị Hoàng Thị Xuân - xuất thân từ một gia đình gốc Huế - đã thừa hưởng và sáng tạo.  

Sự chân thực trong từng chi tiết của tranh thêu XQ cùng vẻ đẹp được tạo nên từ những đường nét thêu tay tỉ mỉ đã khiến dòng tranh này nức tiếng không chỉ ở trong nước, mà còn được yêu thích ở nước ngoài, đặc biệt là đối với những khách hàng yêu thích các sản phẩm thủ công độc đáo, giàu tính thẩm mỹ nghệ thuật.

Ngay từ khi mới được thành lập hồi năm 1996, XQ đã đặt ra mục tiêu đưa dòng tranh thêu truyền thống lên một đẳng cấp mới, sứ mệnh này đã được XQ thực hiện đầy ấn tượng. 

Từ tranh khắc họa hoa lá theo mô-típ truyền thống, tới tranh phong cảnh hay tranh chân dung đặc tả chi tiết, các nghệ nhân thêu tranh của XQ đều đưa lại sự chân thực cho tác phẩm bằng những đường nét chỉ thêu mềm mại và sự kiên trì, nhẫn nại đòi hỏi sự tôi rèn qua thời gian.

Oddity Central nhận định những bức tranh thêu XQ có thể xem như một hình thái nghệ thuật thị giác mà nhiều khi ngôn từ là không đủ để miêu tả được hết vẻ đẹp của tác phẩm.

Tuy nhiên, cho đến hiện nay, số lượng làng nghề thêu truyền thống hiện tại còn không nhiều. Nguyên nhân chính là sự phát triển mạnh mẽ của các sản phẩm công nghiệp. Dù vậy, những làng nghề nghệ thuật truyền thống vẫn đang nỗ lực giữ vững nghề thêu của mình như Thắng Lợi, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Phú Xuyên, Cổ Đông, Đông Cứu, Bình Lăng (Hà Nội); Minh Lãng (Thái Bình), Thanh Hà (Hà Nam), Kim Long, Thuận Lộc (Huế), Bảo Lộc (Lâm Đồng)…

  • Làng thêu Thường Tín (Hà Nội): từ cái nôi là xã Quất Động, nghề thêu đã lan sang các xã lân cận: Đông Cứu, Thắng Lợi. Từ bao đời nay, ngoài thời gian đồng áng người dân nơi đây lại miệt mài bên khung cửi. Nhiều bé gái được bà, được mẹ chỉ cho cách cầm kim thêu ngay từ khi còn chưa biết đọc. Ngày nay, nhờ công nghệ nghề thêu cũng được hỗ trợ ít nhiều. Ví như chỉ thêu trước kia vốn hạn chế về màu sắc thì nay nhuộm màu dễ dàng hơn. 
Làng thêu áo cho vua độc nhất vô nhị ở Hà Nội - 1
  • Làng thêu Văn Lâm: nằm cạnh Khu du lịch Tam Cốc-Bích Động, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư. Dọc hai bên đường vào làng là các cửa hàng san sát bày bán các sản phẩm như khăn tay, áo, tranh đều được những người thợ tỉ mỉ thêu từng đường kim mũi chỉ với những hình ảnh đẹp, bắt mắt. Trong đó, độc đáo nhất phải kể đến sản phẩm tranh thêu, chủ yếu là tranh về phong cảnh, quê hương, đất nước. Theo các nghệ nhân cao tuổi của làng, nghề thêu ren ở thôn Văn Lâm có trên 700 năm tuổi. Tương truyền rằng nghề thêu xuất hiện từ khi Vua Trần thắng giặc Nguyên Mông, dân làng đã được bà Trần Thị Dung dạy cho cách chăn tằm, dệt vải, thêu thùa. Thế kỷ 20, trong làng có hai anh em người dòng họ Đinh lên Hà Nội học thêm nghề thêu ren, rua của người Pháp về dạy cho dân làng. Từ đó đến nay sản phẩm thêu tay của Văn Lâm phát triển mạnh mẽ. Mỗi tác phẩm đều mang đậm tính nhân văn thể hiện hồn quê, khơi dậy ở người xem sản phẩm tình yêu đối với non sông gấm vóc.

iDesign | Làng thêu Văn Lâm

  • Người Mông - Mỹ Á: Mỹ Á với những nếp nhà kiên cố, khang trang, những con đường được bê tông hóa, cuộc sống dần thay đổi nhưng nghệ thuật thêu truyền thống vẫn được gìn giữ bởi bàn tay khéo léo của những phụ nữ Mông coi thêu thùa như bổn phận phải lo cái ăn, cái mặc cho gia đình. Ngay từ khi còn nhỏ, bé gái Mông đã được các bà, các mẹ dạy thêu thùa trên những tấm vải lanh, các cô gái đến tuổi “cập kê” đã tự thêu được cho mình được những bộ váy áo sặc sỡ, đẹp mắt mang theo về nhà chồng. Cầm trên tay những chiếc váy, áo, thắt lưng... được thêu bằng len ngũ sắc rực rỡ mới thấy được sự tỉ mỉ, sáng tạo của những đôi bàn tay khéo léo vẫn quanh năm gắn bó với nương rẫy. Mỗi họa tiết đều mộc mạc, gắn liền với đời sống và tinh thần của đồng bào Mông. Họa tiết chủ yếu là các hình vuông, chữ thập, đinh, quả trám, tam giác, tròn, xoáy đơn, xoáy kép, răng cưa... Bên trong là các hình ngôi sao năm cánh, hoa bí, hoa mận, hoa đào... Một số hoa văn đặc biệt, thường được dùng để thể hiện ý nghĩa riêng như hình thêu con ốc sên có ý nghĩa là sự đôn hậu, thanh bình; hình hoa bí, hoa hồi dùng để thêu trên váy cưới, thắt lưng tặng cho người yêu... Hay hình mô phỏng guồng quay sợi lanh - một trong những công đoạn của kỹ thuật dệt lanh thường được thêu trên váy và một số đồ lưu niệm như khăn choàng, túi,ví...Khi thêu không có hình mẫu cụ thể mà chỉ dựa vào kinh nghiệm và cách tính toán từng đường kim mũi chỉ, kích thước trên toàn bộ mảnh vải, chỉ nhầm một mũi kim là phải gỡ ra làm lại. Khi hoàn thành toàn bộ hoa văn trên vải phải đều đặn đến từng chi tiết từ đường kim, mũi chỉ cho đến cách phối màu hài hòa. Bí quyết phối màu ấy đã bao đời được các thế hệ người Mông tôi luyện và sáng tạo, các mẫu hoa văn cũng được lưu giữ qua trí nhớ rồi truyền từ đời này sang đời khác.

“Công việc thêu thùa diễn ra quanh năm suốt tháng, có thể thêu vào lúc nông nhàn, tranh thủ giờ nghỉ trưa trên nương, buổi tối. Thêu không chỉ đơn thuần là tạo ra những bộ trang phục sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày, mà còn chứa đựng nét văn hóa truyền thống của dân tộc Mông. Phụ nữ Mông nào cũng phải có một vài chiếc váy thêu tay thêu ngũ sắc, mặc vào những sự kiện quan trọng trong năm như khi đi hội, xuống chợ nhất là dịp Tết.” - chị Sùng Thị Mai (30 tuổi, Tiểu khu 2, khu Mỹ Á, huyện Tân Sơn) kể.

Người Mông giữ nghệ thuật thêu tay truyền thống - Ảnh: báo Phú Thọ emagazine.

Bảo Tồn và Phục Hưng

Nhìn lại lịch sử, nghệ nhân thêu Việt Nam luôn được đánh giá cao về khả năng phối màu và tỉ mẩn trong việc thêu trên nền vải, tạo nên những tác phẩm hài hòa và mềm mại. Những đường kim mũi chỉ như nhảy lên và lượn xuống tấm vải, tạo nên những hình ảnh sinh động và tinh tế. Điều này đã làm nên đẳng cấp cho sản phẩm thêu tay Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Trong những họa tiết truyền thống, chẳng hạn như muôn hoa đua nở, long phượng trình tường, hoa điểu ngư trùng, hàm ý chúc mừng những điều tốt đẹp nhất cho người thân và bạn bè. Trải qua sự đúc kết tinh hoa, các kỹ năng và phương pháp thêu đã được lưu truyền đến ngày nay. Qua những đường kim mũi chỉ như bay lên lượn xuống tấm vải, người nghệ nhân thể hiện sinh động những hình ảnh xung quanh cuộc sống, từ những bông hoa, động vật đơn giản tiếp diễn, đến người vật, chim muông, hoa lá khéo léo hòa quyện vào nhau một cách tài tình, sinh động, biểu đạt tâm tư, tình cảm của con người, làm phong phú đời sống tinh thần, làm cho đời người tròn vẹn hơn.

Nghệ thuật thêu tay ở Việt Nam đã trải qua sự chuyển biến với sự xuất hiện của thêu truyền thống và thêu tay hiện đại. 

  • Thêu tay truyền thống: tập trung vào các tác phẩm tranh phong cảnh, thiên nhiên và chân dung, mũi thêu nhỏ, chỉ thêu tơ bóng hoặc chỉ tơ mảnh trên nền vải lụa, vải đũi, đòi hỏi sự tỉ mẩn và thời gian chế tác lâu dài. Thêu truyền thống có độ chuyển màu mượt mà, êm dịu, tạo nên sự mềm mại, mảnh mai của các chi tiết. Ngoài thêu trên mặt phẳng, thêu truyền thống còn ứng dụng làm nên các tác phẩm hoa 3D trên vải toan vô cùng tinh xảo. 

Với sự tỉ mẩn và chăm chỉ từng đường kim mũi chỉ, nghệ nhân thêu tay không chỉ tạo ra những tác phẩm đẹp mắt mà còn thể hiện sự kiên nhẫn và đam mê đối với nghệ thuật thêu. Thêu tay không chỉ là cách trang trí cho quần áo và phụ kiện, mà còn là một hoạt động giúp thư giãn tinh thần một cách hiệu quả.

Tinh tế làng nghề thêu tay truyền thống

  • Thêu tay hiện đại: Thêu tay hiện đại hay còn gọi là thêu tay nghệ thuật, là sự kết hợp giữa kỹ thuật thêu, mũi thêu truyền thống và sử dụng những họa tiết hiện đại, phối màu hiện đại cùng với việc sử dụng các loại chỉ mới trên các chất liệu mới. Với thêu tay hiện đại, chủ đề thêu trải dài từ thiên nhiên, chân dung, lễ hội, động vật…, đi kèm nhiều phong cách khác nhau như đi đương đại, tối giản, Parisian, Mexican. Thêu tay hiện đại cũng ứng dụng trên các loại vật liệu như vải linen, vải jeans, vải kaki, canvas, da, bìa giấy, đem lại những hiệu ứng khác nhau. Thêu tay hiện đại tập trung vào tính sáng tạo và cá nhân hóa của nghệ nhân, mở ra nhiều khả năng mới như thêu 3D, thêu nổi (punch needle), thêu móc, mang lại những sản phẩm độc đáo và nghệ thuật. Thêu tay hiện đại là kỹ thuật thêu mới đòi hỏi người thêu phải có cái nhìn mới mẻ, mang “chất riêng” vào những tác phẩm của mình tạo nên một sản phẩm thời thượng, nghệ thuật.

Nghệ nhân thêu tay hiện đại không chỉ đơn giản là người thực hiện công việc thêu, mà còn là những nghệ sĩ sáng tạo, mang "chất riêng" vào từng tác phẩm, tạo ra những sản phẩm thêu tay không chỉ là trang trí mà còn là nghệ thuật.

Chăm chú và tỉ mẩn từng đường kim mũi chỉ, chị Huỳnh Thị Trang, 27 tuổi, TP. Huế vui vẻ trò chuyện: “Bộ môn thêu hiện đại này nhìn thì có vẻ đơn giản nhưng để có được một sản phẩm đẹp, hoàn thiện còn phụ thuộc vào độ khéo tay cùng với sự chỉn chu trong từng mũi thêu. Hơn hết, để làm ra một sản phẩm thêu tay, người thêu cần phải kiên nhẫn với bộ môn này...Để có được một sản phẩm thêu tay hiện tại, đầu tiên cần xác định và phác thảo hình muốn thêu. Tùy theo từng vị trí và đường nét, chúng ta có thể chọn những mũi thêu phù hợp để tạo điểm nhấn cho sản phẩm. Ví dụ, đối với phần lá hoa và cánh hoa, chúng ta sẽ sử dụng mũi sa-tanh hay còn gọi là mũi bó xéo. Đối với đường viền, chúng ta sẽ sử dụng mũi thêu cành cây. Còn nhụy hoa thì sử dụng mũi sa hạt…”

Từ những mũi thêu cơ bản, chúng ta có thể thêu những bông hoa xinh xắn, những con chữ, con số, chân dung nhân vật hay thậm chí chúng ta có thể mô phỏng mọi hình ảnh thực tế lên miếng vải đơn sơ nhờ vào những đường chỉ. Không chỉ tô điểm cho quần áo, phụ kiện thêm phần sinh động, thêu tay nghệ thuật còn là một cách giúp thư giãn đầu óc hiệu quả.

Thách thức và Cơ hội

Tuy nhiên, cũng cần nhìn vào một thực tế rằng nghề thêu đang đứng trước nguy cơ mai một. Số lượng gia đình theo nghề có xu hướng giảm dần theo mỗi năm. Lý do chính là nguồn lợi kinh tế không đủ trang trải cuộc sống. Giữa những tâm huyết trong từng đường thêu, nhiều nghệ nhân phải rất chật vật để bám nghề. Nhiều nghệ nhân tâm niệm sẽ mãi một lòng với Tổ nhưng gánh nặng cơm áo vẫn oằn vai. Cùng với sự phát triển chung của ngành may mặc, máy thêu công nghiệp, máy thêu tích hợp với máy may cũng đã có từ lâu, các sản phẩm thời trang nhanh với mẫu mã liên tục và đại trà cũng xuất hiện dày đặc cũng khiến các sản phẩm nghệ thuật truyền thống khó tìm chỗ đứng. 

Mặc dù nghệ thuật thêu đang đối mặt với nguy cơ mai một, việc tìm đầu ra quốc tế có thể là chìa khóa để bảo tồn, phục hưng và phát triển nghệ thuật này. Không chỉ tiêu dùng trong nước, sản phẩm thêu tay Việt Nam cần vươn mình ra quốc tế. Những người nghệ nhân thêu tay chia sẻ rằng nghề này đòi hỏi sự khéo léo, tài hoa, và lòng đam mê, và chỉ thông qua sự hỗ trợ và sự công nhận quốc tế, nghệ thuật thêu tay Việt Nam mới có thể vươn lên và tỏa sáng trên bản đồ nghệ thuật thế giới.

Đây vừa là cách để bảo tồn, cũng là để mang nét đẹp làng nghề Việt ra thế giới.

Những nghệ nhân thêu tay ở đây chia sẻ thêu là một nghề thủ công đòi hỏi người thợ phải có bàn tay khéo léo, tài hoa, đôi mắt tinh tường cộng với bộ óc tinh tế và đức tính cẩn thận, cần mẫn.

Thêu tay chưa bao giờ mất đi chỗ đứng bởi những giá trị về tình cảm, tinh thần, thẩm mỹ được người thêu gửi gắm trọn vẹn trong mỗi sản phẩm. Đó là những thứ không máy móc nào, không guồng quay nào có thể so sánh được. 

Nghề thêu tay truyền thống của Trung Quốc

Thêu là loại hình nghệ thuật tinh hoa truyền thống cổ xưa của Trung Hoa, xuất hiện từ rất sớm, từ khi xây dựng con đường tơ lụa, tính đến nay cũng đã có hơn 2000 đến 3000 năm lịch sử. Lịch sử của ngành nghề truyền thống này vốn gắn liền với lịch sử tâm linh của người phụ nữ Trung Quốc cổ đại, dùng công việc thêu thùa để bày tỏ tâm sự, tình cảm và để làm đẹp cho chính mình. Kỹ năng này đã đạt tới trình độ tương đối cao vào thời nhà Tấn, nhà Hán, thêu thùa và tơ lụa từng là hàng hóa chính được vận chuyển trên con đường tơ lụa.

Thời Hán (221B.C.-220A.D.)

Nghề thêu bắt nguồn từ nhu cầu làm đẹp, trang điểm bản thân. Thời hoàng đế đã có bài ghi chép về hoa văn và màu sắc, từ khi người xưa phát hiện ra rằng màu sắc có thể điểm tô sắc đẹp, họ bắt đầu quét màu sắc lên cơ thể và gọi đó là "chương thân", sau đó, họ lại xăm mình; cuối cùng được thêu trên quần áo. Đến thời nhà Tần và nhà Hán, nghề thêu đã khá phát triển. Thời Tiền Hán Vũ Chiêu, không chỉ vua chúa, quý tộc mới được ăn mặc gấm vóc lụa là, mà ngay cả những gia đình khá giả cũng có quyền mặc đồ thêu năm bảy thứ màu, đắp chăn gấm thêu hoa. Thậm chí những chiếc chiếu họ ngồi, những chiếc màn họ nằm, cái túi tuẫn tángcùng người quá cố cũng được thêu một số hoa văn. Dân gian còn như vậy, huống hồ quý tộc. Cung điện của họ được trang trí bằng hàng dệt tơ, lụa bằng tảo biển, đến nỗi "ốc bất trình tài, tường bất lộ hình” (có nghĩa là, nhà không biết được xây bằng vật liệu gì, tường không để lộ ra), cột nhà, lan can cũng được bọc bằng đồ thêu. Thời nhà Hán, là thời kỳ phát triển thinh vượng của nghề thêu. Trong một cuốn sách cổ bằng thẻ tre được khai quật ở Lăng mộ số một của Mã Vương Đôi thời Hán đã ghi lại 3 loại thêu: thêu Tín Ki, thêu Thừa Vân và thêu Trường Thọ.

Đến cuối đời nhà Hán và thời kỳ Nam Bắc triều, Trung Quốc bắt đầu bước vào thời đại “Tượng giáo di tăng” (Phật giáo còn được gọi là Tượng giáo), do đó trong dân gian nổi lên phong trào thêu tượng Phật. Ngoài ra, không thể không nhắc đến Triệu phu nhân - người vợ của Ngô Vương Tôn Quyền thời Tam Quốc. Theo bài ký "Những danh họa của các triều đại" của Trương Ngạn Viễn, Triệu phu nhân là em gái của thừa tướng Triệu Đạt, thông minh lanh lợi, tinh thông thư họa, cái thế vô song, có thể biến những sợi tơ màu thành rồng bay phượng múa trên gấm lụa. Do những thành tựu bà đạt được, mà người đời gọi bà là Tam tuyệt - Cơ tuyệt - Châm tuyệt - Ti tuyệt. Một đặc điểm nổi bật khác của nghề thêu thời đó là sự xuất hiện hình ảnh nhân vật trong tác phẩm thêu, đây cũng khơi dòng cho thể loại thêu nhân vật sau này.

Han Dynasty Embroidery

Thêu tay thời Hán (221B.C.-220A.D.)

Thời Đường (618-906) 

Từ thời nhà Đường, thêu đã bắt đầu được coi là một loại hình nghệ thuật, với rất nhiều các bức tranh thêu, y phục thể hiện chất lượng cũng như kỹ xảo thêu thùa đỉnh cao. Hiện nay, rất nhiều cá tác phẩm thêu cổ điển Trung Hoa đang được lưu giữ trong các bảo tàng ở Mỹ, Anh, Nhật Bản v.v. Thêu thùa dưới thời Đường được sử dụng rất rộng rãi, các thủ pháp thêu cũng có nhiều bước phát triển mới. Các nghệ nhân có thể dùng thêu may vá phục sức, dùng để tạo đồ trang sức, chế tác rất tinh xảo, hoa lệ. Bên cạnh đó, thêu thùa cũng xuất hiện rất nhiều trong thơ ca, văn học thời kỳ này, ví dụ trong bài thơ “Tần trung ngâm” của Bạch Cư Dị có câu thơ “Hồng lâu phú gia nữ, kim lũ thứ la nhu”, (thứ) là thêu, dịch nghĩa:

“Thiếu nữ phú quý lầu son, kim vàng thêu áo lụa”. 

- “Hồng lâu phú gia nữ, kim lũ thứ la nhu” - Bạch Cư Dị

Thời nhà Đường và nhà Tống, nghề thêu phát triển theo hướng tinh xảo hóa, xu thế này chủ yếu chịu ảnh hưởng của môi trường xã hội. Trong xã hội phong kiến mà người đàn ông cày cấy, người phụ nữ dệt vải, các cô gái phải học kỹ thuật thêu may. Chính vì thế, đối với những tiểu thư đài các, thêu thùa đã trở thành hoạt động duy nhất để họ tiêu khiển, tu tâm, hun đúc tâm linh. Nói ngắn gọn, sự ra đời của “khuê tú” không phải là tình cờ.

Do đối tượng tham gia vào nghề thêu ngày càng được nhân rộng, sự khác biệt về mặt trình độ văn hóa và điều kiện vật chất giữa họ, và sự tham gia của những văn nhân thi sĩ, nghề thêu đã tiến bộ nhảy vọt trong thời đó. Sự đóng góp hăng hái của giới trí thức khiến cho thư-họa-thêu gắn bó với nhau chặt chẽ hơn, hình thành nên một chiều hướng mới - họa sĩ vẽ tranh, nghệ nhân thêu.

Triều đại nhà Đường là thời đại Phật giáo hưng thịnh nhất trong suốt lịch sử Trung Hoa. Vì vậy, thêu thùa bên cạnh việc làm y phục, trang sức còn được sử dụng nhiều để thêu các bức tranh về tượng Phật. Thời Võ Tắc Thiên, đã lệnh thêu hơn 400 bức tượng Phật, sau đó đem gửi đến các chùa chiền và dùng làm lễ vật gửi sang các nước khác. 

Tang Dynasty Embroidery

Kỹ thuật chế tạo sợi chỉ vàng dưới thời Đường (618-906) 

Kỹ thuật chế tạo sợi chỉ vàng dưới thời Đường được coi là đặc biệt phức tạp. Đầu tiên đem những khối vàng quý hiếm ra chế tác thủ công, mài thành những miếng vàng mỏng, tránh cho miếng vàng không bị giòn vỡ nên các nghệ nhân phải dùng một lượng bạc nhỏ làm thành phần trong đó. Sau đó đem những miếng vàng mài thành những sợi vàng nhỏ, mỏng, đường kính chỉ có 0.06 mm. Loại công nghệ này thời Đường thực hiện hết sức tinh xảo, kỹ thuật hiện đại chúng ta quả thật không so được.

Thời Tống (960-1279)

Từ triều Tống, thêu thùa trở thành loại hình nghệ thuật bậc nhất với những tác phẩm mỹ lệ thể hiện tay nghề, kỹ xảo cao siêu. Thời kỳ này, các tác phẩm kết hợp giữa hội họa và thêu thùa rất được ưa thích. Những bức tranh với lối vẽ tranh tinh vi, tỉ mỉ rất được ưa chuộng, thủ pháp cũng đạt đến đỉnh cao trong nền lịch sử nghệ thuật truyền thống của Trung Hoa. Thời Tống có rất nhiều các viện thêu được sáng lập, thỉnh rất nhiều các nghệ nhân có tay nghề nổi tiếng đến. Điểm đặc biệt của thêu thùa thời Tống đó là tranh lụa kết hợp với thêu. Đầu tiên, các nghệ nhân sẽ họa tranh, thường là vẽ lên lụa, sau đó dùng kim thêu, thêu từng đường chỉ tinh tế, hoàn thiện bức tranh. Vì vậy, dưới triều Tống, tài nghệ, kỹ xảo thêu thùa đã đạt bước thượng thừa.

Tranh lụa được coi là tinh hoa nghệ thuật tơ lụa truyền thống Trung Hoa. Không chỉ bởi giá trị trân quý của một mảnh lụa “Một tấc lụa, một tấc vàng”, mà còn bởi tay nghề cao siêu cũng như sự phức tạp mà không mất sự tinh tế, tỉ mỉ của loại hình nghệ thuật này.

Song Dynasty Embroidery

“Mai thước” được coi là tác phẩm đại diện cho nghệ thuật thêu dệt cung đình thời Tống (960-1279)

Thời Nguyên (1280-1368)

Sự chạm vào tâm linh của nghệ thuật thêu được củng cố bởi các vị vua triều Nguyên, những người hành đạo đạo Phật. Nghệ thuật thêu không chỉ được ứng dụng rộng rãi trong việc trang trí trang phục mà còn nằm một phần quan trọng trong việc tạo hình các tượng Phật, kinh sách và lá cờ cầu nguyện của đạo Lạc Dương.

Han Dynasty Embroidery

Thêu tay thời Nguyên (1280-1368)

Thời Minh (1368-1644)

Thời nhà Minh và nhà Thanh, các cơ sở chuyên sản xuất hàng hóa thêu tay đã xuất hiện ở khắp nơi. Đặc biệt là vào thời nhà Minh, ngành nghề thủ công dân gian phát triển, đẩy công nghệ và sức sản xuất nghề thêu phát đạt tới đỉnh cao. Cũng trong thời kỳ này đã nảy sinh ra các trường phái nghệ thuật có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sau, ví dụ như, Cố tú của Thượng Hải, Kinh tú của Bắc Kinh, Biện tú của Khai Phong (Hà Nam) , Lỗ tú của Sơn Đông v.v. Không chỉ đạt đến độ tinh xảo về đường nét, thêu tay thời kỳ này còn gây ấn tượng bởi khả năng phối màu hài hòa, sinh động, chứng minh công nghệ nhuộm chỉ cũng đã có nhiều bước tiến vượt bậc. 

Triều Minh, có một họa sĩ rất nổi tiếng tên Đổng Kỳ Xương, cũng là nhà giám định rất nổi tiếng. Ông đánh giá rất cao đối với nghệ thuật thêu thùa thời Tống, theo ông, kỹ thuật dùng kim thêu để họa lên một bức tranh của nghệ nhân thời Tống thậm chí còn cao hơn các bậc danh họa.

Các nghệ nhân thêu thời Minh về cơ bản là kế thừa lại phong cách nghệ thuật của thời Tống, bên cạnh đó, cũng tự mình tạo ra một vài kỹ thuật thêu khác. Khi nền tảng của chủ nghĩa tư bản bắt đầu nảy mầm trong thời kỳ Minh, nghệ thuật thủ công và nhiều ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ. Thêu được sử dụng rộng rãi trong mọi tầng lớp, từ cung đình, quý tộc đến người dân lao động bình thường, cũng được ứng dụng trong nhiều ngành nghề hơn, vì thế từ triều Minh cho đến triều Thanh, cũng là thời kỳ thêu thùa phổ biến nhất trong lịch sử văn hóa truyền thống Trung Hoa, nghệ thuật thêu được đưa lên mức cao trong văn hóa đại chúng. Chất lượng của nghệ thuật thêu và nguyên liệu cho việc sử dụng hàng ngày đã được cải thiện và mở rộng sang thêu tóc, thêu giấy, thêu mảnh kim, thêu sợi, thêu kim loại và nhiều hơn nữa.. Kỹ năng trở nên thành thạo hơn. Trong thời kỳ Minh, các gia đình và cá nhân chuyên nghiệp bắt đầu xuất hiện.

Song Dynasty Embroidery

Thêu tay thời Minh (1368-1644)

Thời Thanh (1644-1921)

Giữa triều đại Thanh, quốc gia yên bình và kinh tế phồn thịnh. Nghệ thuật thêu đã phát triển và được cải thiện thêm trong nhiều loại thêu khác nhau: hình ảnh sống động, giống thật, tinh tế độc đáo, tuyệt vời và lịch lãm, độ trang nghiêm tĩnh lặng và hiệu ứng nghệ thuật, thậm chí còn nhiều hơn trên các trang trí cho mọi nhu cầu sử dụng hàng ngày.

Nghệ thuật thêu thời Thanh đã kế thừa các đặc điểm của nghệ thuật thêu thời Minh và hấp thụ thành phần mới từ thêu Nhật Bản và thậm chí là nghệ thuật phương Tây.

Qing Dynasty Embroidery

Thêu tay thời Thanh (1644-1921)

    Các loại hình tranh thêu tiêu biểu của Trung Quốc

    1. Cố thêu - phương pháp thêu của người họ Cố

    Ở Tùng Giang, nay là thành phố Thượng Hải, một gia tộc gọi là Lộ Hương Viên, có một người con dâu vô cùng khéo tay, cô đã sáng tạo nên rất nhiều các loại phong cách thêu. Ban đầu tranh thêu đều là chọn dùng sợi tơ, nhưng cô đã sáng tạo nên một kỹ thuật mới, cô có thể dùng tóc làm vật liệu để thêu, thậm chí là lông gà, lông chim cũng được coi là vật liệu chính để thêu. Ngoài ra còn có một kỹ thuật có độ khó cao khác như dùng miếng vàng mỏng quấn quanh sợi tơ sau đó dùng để thêu.

    Cô đã tạo nên một phương pháp thêu rất nổi tiếng và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cũng như các nghệ nhân thời Minh, tên gọi là “Cố thêu”.

    Tranh của Cố thêu chủ yếu lấy cảnh sơn thủy, tranh hoa và chim v.v. trong các danh phẩm thời Tống và Nguyên làm nhân vật chính rồi kết hợp vẽ. Y phục các nhân vật thì dùng bút vẽ sau đó dùng kim thêu; khuôn mặt thì thêu trước vẽ sau; còn các cảnh sắc thiên nhiên như mây thì dùng bút vẽ trực tiếp không thêu. Nét nghệ thuật đặc biệt của Cố thêu nằm ở việc dùng kim thêu thay bút, lấy mô phỏng các danh phẩm thời đại trước làm chủ, chủ tâm theo đuổi phong cách tao nhã, thanh lịch mà tràn đầy tâm ý của người nghệ sĩ của nghệ thuật vẽ truyền thống Trung Hoa. Đặc điểm tranh của Cố thêu là thường có màu xanh lục nhạt, vải thêu cũng chọn màu hơi ngả vàng, thiết kế màu sắc không được sinh động như những hàng thêu khác.

    Con cháu của Cố thị chỉ thích ăn chơi hưởng lạc, làm cho về sau gia đình suy kiệt, Cố thị phải đem những bức thêu của mình ra làm hàng hóa. Sau đó cũng thu nhận các tú nương về để truyền nghề.

    nhung hang theu noi tieng 10

    Cố thêu được liệt vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể với hơn 400 năm lịch sử.

    2. Thục thêu - hàng thêu đất Thục, thuộc tỉnh Tứ Xuyên

    Trường phái tranh thêu được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, sản phẩm bảo hộ chỉ dẫn địa lý quốc gia và là sản phẩm đặc biệt của Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc. 

    Thục tú của Thành Đô: Tứ Xuyên là vùng dệt gấm có tiếng (gấm Thục) nên nghề thêu cũng phát triển. Thục tú xưa ít thêu tranh, mà thường thêu trên đồ dùng hàng ngày. 

    Thục thêu là loại hình được lưu giữ và truyền thừa lâu đời nhất Trung Quốc, nó có một nét quyến rũ riêng với gam màu tươi sáng, tinh tế, đường kim mũi chỉ tinh xảo, phong phú đứng đầu trong các loại tranh thêu nổi tiếng hiện nay. Thục thêu sử dụng vải sa tanh mềm và lụa màu làm nguyên liệu chính. Đặc biệt nó có tới hơn 122 loại mũi thêu như mũi đặt, mũi lăn, mũi cắt, mũi phủ,… Chủ đề của tranh thêu thường là hoa cỏ, chim, cá, động vật, phong cảnh,… Ngoài việc thêu trên màn thêu bình thường thì nó còn được thêu trên vỏ gối, chăn, đệm và các đồ vật trang trí khác. 

    3. Tô thêu - hàng thêu Tô Châu

    Tranh thêu Tô Châu thuộc vào lô di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia đầu tiên được chọn vào danh mục khôi phục nghề truyền thống quốc gia và thuộc top 4 nghề thêu nổi tiếng nhất Trung Quốc.

    Tô tú của Tô Châu: tranh thêu rất đa dạng từ phong cảnh, hoa, điểu, động vật, thủ pháp châm kim rất linh hoạt tinh tế, đặc biệt chú trọng sự tỉ mỉ, nghe nói thợ thêu có thể tước một sợi chỉ tơ thành nhỏ đến 1/16 mà thêu. Tô thêu có phong cách độc đáo, hoa văn đẹp, khéo léo, đường thêu tỉ mỉ, đường chỉ sống động, màu sắc trang nhã mang đậm bản sắc địa phương. 

    Dòng tranh thêu Tô Châu nổi tiếng nhất là ở trấn Trấn Hồ trong khu công nghệ cao của viện nghiên cứu thêu Tô Châu. Trấn Hồ là nơi chính sản sinh ra nghệ thuật thêu Tô Châu và chiếm tới 80% số lượng sản phẩm thêu Tô Châu. 

    4. Hàng thêu - hàng thêu Hàng Châu

    Hàng thêu Hàng Châu, còn được gọi là Cát thêu, có nguồn gốc từ thời nhà Hán, triều đại Nam Tống là thời kỳ thịnh vượng. Hàng thêu chủ yếu là do nam công nhân làm. Do đó, trong ngành công nghiệp này, chỉ có nam công nhân được truyền thụ kỹ thuật.

    Loại thêu này vẫn phổ biến ở thời Trung Hoa Dân Quốc và trở thành một đặc điểm chính của thêu Hàng Châu. Thiết kế của Hàng thêu hầu hết dựa trên các mẫu truyền thống như rồng, phượng, kỳ lân, dơi, con công, hoa mẫu đơn, thọ đào, bát quái, phong cảnh Tây hồ,... và những hình vẽ truyền thống.

    nhung hang theu noi tieng 4

    5. Ôn thêu - hàng thêu Ôn Châu, ở tỉnh Chiết Giang

    Nghệ thuật truyền thống địa phương của Ôn Châu, tỉnh Chiết Giang, còn được gọi là Họa Liêm, còn được gọi là Ôn thêu, được bắt đầu từ thời nhà Đường và phát triển mạnh mẽ vào triều đại nhà Minh và nhà Thanh. Tranh thêu Ôn có thể nổi tiếng ngang với tứ đại hàng thêu ở Trung Quốc, một trong những hàng thêu xuất khẩu nổi tiếng ở Trung Quốc, không chỉ được quốc gia quý trọng mà còn được làm quà tặng quốc gia.  

    Phương pháp đặc biệt như sau: trúc được cạo đi lớp da màu xanh lá cây, phân thành từng phiến, nấu chín rút tơ, bện thành tấm vải trúc, sau đó dùng thuốc màu và chỉ tạo thành sản phẩm thêu ở trên bề mặt. Ôn thêu thường có nội dung chủ yếu như thú vật, sơn thủy, đặc biệt có sở trường về thêu các nhân vật.

    Là một loại hình thủ công thêu độc đáo của Trung Quốc, tranh thêu Ôn dần dần phát triển và bắt đầu có tác dụng là trang trí nhu yếu phẩm hàng ngày. Các sản phẩm thêu ban đầu của nó bao gồm áo choàng thần, trang phục opera, bình phong... sau mở sang thêu phong cảnh, động vật, thư pháp… có giá trị và tác dụng trang trí rất cao.

    tranh theu

    Ô thêu thuộc lô văn hóa phi vật thể đầu tiên ở tỉnh Chiết Giang, di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia và là loại nghệ thuật trọng điểm được bảo vệ ở tỉnh Chiết Giang. 

    6. Tương thêu - hàng thêu Hồ Nam 

    Tương tú của Hồ Nam: Tương tú thường thêu động vật, thêu mãnh thú như hổ, rồng, sư tử, vô cùng tinh tế và sinh động.

    Thêu lụa thủ công tập trung chính ở thành phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam. Đây là một trong “tứ đại danh thêu” nổi tiếng của Trung Hoa. Tương thêu có một lịch sử lâu dài, được khởi nguồn ở Trường Sa trong thời Chiến Quốc và tranh thêu chữ Hán vào thời Tây Hán. Phương pháp kim của Tương thêu chủ yếu là sảm kim (sảm: trộn lẫn), được phát triển nhờ tiếp thu những ưu điểm của nghề thêu Tô Châu và thêu Quảng Đông và nó cũng đã có lịch sử hơn 2.000 năm. Phương pháp kim thêu Hồ Nam được đặc trưng bởi kim nhân sâm, có thể thể hiện hình dạng ba chiều và hiệu ứng nhòe của vật thể. 

    Tranh thêu Hồ Nam được đặc trưng bởi các lớp màu phong phú tạo nên những bức tranh thêu đẹp như tranh vẽ. Tranh thêu Hồ Nam có nhãn cầu sống động và gần giống như thật dần dần đã phát triển thành tranh thêu hai mặt hoàn toàn khác với màu sắc, hình dạng và các mặt khác nhau.  

    Tranh thêu Hồ Nam đã liên tiếp tham gia các cuộc triển lãm quốc tế được tổ chức tại Nhật Bản, Panama, Hoa Kỳ và những nơi khác, đồng thời loại hình thêu này cũng đã giành được nhiều giải thưởng và có uy tín cao trên thị trường quốc tế.

    7. Việt thêu - hàng thêu Quảng Đông

    Việt tú của Quảng Đông: Việt tú chia thành hai nhánh lớn là Triều Tú của Triều Châu chuyên thêu kim tuyến và thêu tranh nổi (độn bông ở dưới mặt chỉ để mẫu thêu có độ phồng nhất định). Việt Tú vốn chuyên làm tranh, rèm...để thờ trong các đình miếu. Nhánh thứ hai của Việt Tú là Quảng Tú của Quảng Châu, đặc điểm của Quảng tú cổ điển là giữa các chi tiết của mẫu thêu có chừa 1 khoảng cách rất bé, gọi là lưu thủy lộ (chừa đường nước).

    Loại hình thêu này có nguồn gốc từ thời nhà Đường với nhiều chủ đề thêu, trong đó các chủ đề truyền thống như rồng , phượng , mẫu đơn, chim và phượng, trái cây ngon từ các nước phía nam như vải thiều, công, vẹt… Có 3 loại phương pháp đi kim: kim cơ bản, kim phụ trợ và kim hình ảnh và khoảng  45 loại kim, bao gồm kim kim thẳng,  kim liên tục, kim cắn,  kim đặt, kim đóng đinh, kim thắt cổ, kim thêu lưới và kim đập,… 

    Tranh thêu Quảng Đông chú ý đến sự kết hợp giữa hình dạng và chất lượng của chất liệu. Có bốn loại tranh thêu: Tranh thêu nhung lụa, tranh thêu chỉ vàng và bạc, tranh thêu chỉ và tranh thêu hạt cườm. Tranh thêu nhung lụa sử dụng lụa làm chất liệu thêu và có sức truyền tải mạnh mẽ. Đây là kiểu thêu Quảng Đông có lịch sử lâu đời nhất và sự kế thừa đầy đủ nhất các kỹ năng. Có hơn 60 loại gồm bao gồm thêu đệm, thêu đỉnh, dệt thêu và thổ cẩm. Thêu cườm là một loại hình thêu mới của Quảng Đông mới chỉ được các nghệ nhân thêu Quảng Đông phát triển và áp dụng trong những thập kỷ gần đây.

    Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, một trong bốn nghề thêu lớn nhất ở Trung Quốc là tên chung của thêu Quảng Châu (thêu Quảng Châu ) và thêu Triều Châu ( thêu Châu). 

    8. Biện thêu - hàng thêu Khai Phong, Hà Nam

     

    Biện thêu đã nổi danh khắp cả nước từ thời Tống, được mệnh danh là “Quốc bảo”. Đây là trường phái thêu không chỉ khắc họa giỏi về hoa lá, chim chóc, côn trùng, cá, chim và động vật mà còn giỏi thể hiện phong cảnh, khắc họa nhân vật một cách tỉ mỉ và sống động. 

    Tranh biện thêu vừa có phong cách trang nhã, sống động của tranh thêu Tô Châu, vừa có nét tươi sáng , không gò bó của tranh thêu Hồ Nam, từ đó mà hình thành đặc điểm của thêu biện với đường thêu tinh xảo, màu sắc đơn giản trang nhã, từng lớp thêu rõ ràng, hình ảnh sống động.

    tranh theu

    Biện thêu được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia và cũng là di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của tỉnh Hà Nam. 

    10. Tấn thêu - hàng thêu Sơn Tây

    Một nghề thủ công truyền thống cổ xưa của dân gian tỉnh Sơn Tây. Với đặc điểm địa phương ở Sơn Tây, màu sắc tương phản là khá mạnh mẽ. Hiệu ứng ba chiều của Tấn thêu rất mạnh, cộng với hiệu ứng thị giác đầy đặn. Tấn thêu chủ yếu đại diện bởi những sản phẩm như giày đệm, đầu hổ, hồ lô.

    nhung hang theu noi tieng 6

    10. Kinh thêu - hàng thêu của kinh thành Bắc Kinh

    Kinh thêu hay còn được gọi là “thêu cung đình“, hay “cung thêu“. Phát triển hưng thịnh trong thời nhà Minh và nhà Thanh. Chủ yếu được sử dụng để trang trí quần áo phục sức trong cung đình. Chất liệu của kinh thêu rất tinh tế sang trọng, tinh tế từ công nghệ, phong cách ưu nhã. Thường lấy lụa tơ tằm làm vải thêu; chỉ thêu có khi là sợi bạc sợi vàng. Điểm đặc biệt nữa là, kho báu này đều là sản phẩm thêu của những người thợ thủ công là nam nhân. Đó là sự khác biệt rất lớn giữa nghệ thuật thêu trong cung đình và dân gian.

    nhung hang theu noi tieng 8

    Thêu nghệ thuật - vương giả phương Tây

    Tại châu Âu, nghề thêu đã xuất hiện từ khoảng thế kỷ thứ V-XI với những bức chân dung, tranh vẽ về tôn giáo, văn hóa… Nhờ thông thương giữa các châu lục, đến khoảng thế kỷ thứ VII, sản phẩm thêu tay từ Trung Quốc đã có mặt tại Hàn Quốc, Nhật Bản và các nước Tây Âu, trở thành mặt hàng xa xỉ chỉ giới thượng lưu mới có khả năng sở hữu. 

    Nguyên ban đầu, thêu được bắt nguồn từ nhu cầu làm đẹp của cổ nhân. Sau khi đã có y phục, cổ nhân dùng màu mực vẽ lên y phục, tuy nhiên họ nhận ra nếu đem đi giặt tẩy thì những hình vẽ đó sẽ biến mất. Vì thế, để lưu giữ các hình hoa văn lâu hơn, người xưa đã nghĩ ra cách dùng kim khâu thêu lại từng hình vẽ, họ nhận ra như vậy thì sau khi đem đi giặt vẫn có thể lưu các hình vẽ lại. 

    Vào khoảng những năm 1500, người phương Tây đã bắt đầu sử dụng những sợi chỉ nhuộm màu, sợi len và đôi khi cả sợi bạc, vàng hoặc đồng thau... và bắt đầu những đường thêu cơ bản để trang trí họa tiết cho quần áo. Họ thêu thùa hình ảnh những cảnh vật thiên nhiên đơn giản như hoa hay những hình trừu tượng mô phỏng những hoạt động, sinh hoạt của đời sống. Trong giai đoạn này, chỉ những nhân vật vua chúa, những người quyền lực trong bộ tộc hay những nhân vật thương gia, tầng lớp thượng lưu giàu có mới được khoác lên mình những bộ trang phục có họa tiết thêu tay cầu kỳ. Đặc biệt, giới quý tộc còn muốn thế hiện sự giàu có của mình bằng cách đính lên trang phục các loại đá quý kết hợp nghệ thuật thêu. Để khẳng định sự độc quyền của những bộ quần áo này, một số quốc gia còn ra bộ luật quy định của việc tiêu pha, tức là chỉ những người giàu có mới được quyền mặc trang phục thêu, đính đá. Ở Anh năm 1574 còn ban hành đạo luật rằng chỉ những nhân vật quyền lực nhất mới được mặc đồ có thêu vàng hoặc đính ngọc trai. Cho đến cuối những năm 1800, tất cả mọi người đã có quyền tự do thêu thùa và trang trí cho những bộ trang phục của mình.

    Việc thêu tay tốn rất nhiều công sức và thời gian. Trước khi phát minh ra máy thêu trong năm 1800, thêu được thực hiện bởi những người có nhiều thời gian rảnh rỗi, nhàn hạ như tiểu thư hay nữ tu. Sự phổ biến của trang phục thêu ngày càng nhiều đã tạo ra nhu cầu về thợ thêu chuyên nghiệp ngày càng cao. Những người có điều kiện bắt đầu học thêu và lúc này nó được coi là một nghề rất cao quý. Năm 1900, nghệ thuật thêu được truyền dạy cho các cô gái trẻ ở nhà, trong tu viện và đưa vào trường học như một chương trình giáo dục.

    Những mẫu thêu đầy màu sắc và phức tạp có thể tìm thấy từ nền văn minh sớm của Babylon, Ba Tư, Thái, Hy Lạp, Ai Cập, La Mã và Trung Quốc… Giai đoạn những năm 1800, các nhân vật giàu có đặc biệt thích kiểu thêu sợi bạc, bạc trên chất liệu lụa kết hợp ngọc trai. Sau đó những hình thêu động vật và thực vật trở nên phổ biến hơn. Trong một số nền văn minh, động vật, chim chóc và hoa lá có ý nghĩa biểu tượng, thể hiện tinh thần của người mặc. Những mẫu thêu về chủ đề này cũng được thể hiện rất cầu kỳ, tinh xảo và sống động thông qua màu sắc và kiểu thêu đa dạng. Người Ba Tư chuộng mẫu thêu hình hoa, đại bàng, con sông, sư tử có cánh, những hình tròn có hoa hồng hoặc sao bao quanh. Trong khi đó Trung Quốc chuộng hình ảnh thêu rồng, chim phượng hoàng, chim công, hổ trắng và rùa đen… những loài động vật tượng trưng cho quyền lực , sức mạnh và cả may mắn.

    Trong giai đoạn đầu của nghệ thuật thêu họa tiết, chỉ nhân vật quyền lực và giàu có bậc nhất mới được khoác lên mình những bộ cánh như thế này

    Từ những mũi thêu cơ bản, người ta bắt đầu khám phá những các thêu phức tạp hơn để tạo được độ bóng và chiều sâu cho từng họa tiết. Và đó thực sự là một thế giới màu sắc đầy sáng tạo và hấp dẫn với những người thợ yêu nghề thêu.

    Nghệ thuật thêu dần đạt đến trình độ phức tạp hơn với những họa tiết khó, đòi hỏi kỹ thuật cao.

     

    Textile Production in Europe: Embroidery, 1600–1800 | Essay | The  Metropolitan Museum of Art | Heilbrunn Timeline of Art History

    Rương bọc gấm thêu 1600-1800

    Detail of altar frontal (antependium}, France or Italy, 1730-1740. Silk satin with silk and metallic-thread embroidery, guipure and gaufrure.

    Trong quá khứ, hình thêu chỉ dùng cho những người giàu có, chúng được thể hiện qua những bộ trang phục và trang trí cho các mặt hàng gia dụng như khăn trải giường, thảm, rèm cửa sổ… Ngày nay, thêu họa tiết trong thiết kế thời trang đã vô cùng phong phú, đầy màu sắc và đạt đến độ tinh xảo tuyệt đối. Trên mọi chất liệu từ vải lựa, ren cho tới da lộn… những hình thêu đều rất mịn, bóng và chặt chẽ.

    Không giống với những xu hướng thời trang khác, từng trải qua những giai đoạn thoái trào. Nghệ thuật thêu chỉ từng bước phát triển và ngày càng đạt đến độ tinh xảo đỉnh cao. 

    IWTB Interview: Paul Kolyer - Journal - I Want To Be An Alt | Lady mendl,  Schiaparelli, Fashion

    Trong bộ sưu tập xuân hè 1937, Elsa Schiaparelli trình làng bộ nhung đen có hình thêu nữ thần trên một con sư tử và bao quanh là 4 con ngựa vô cùng nổi bật và quyền lực. 

    Năm 2002, Costume Institute Kyoto ra mắt những thiệt kế được thêu từ chỉ vàng và trang trí bằng sequins, ngọc trai. 

    1988-89 - Yves Saint Laurent Couture show - by Anne Marie Bohme | Yves  saint laurent couture, Yves saint laurent paris, Fashion

    Yves St. Laurent để lại dấu ấn với bộ váy màu xanh lục có thêu hoa vàng và xanh đậm kết hợp ngọc trai và sequins trong bộ sưu tập xuân hè 1962. 

    tom ford gucci 1999 for Sale,Up To OFF 67%

    Bộ sưu tập xuân hè 1999, Tom Ford và Gucci cũng gây ấn tượng với giới mộ điệu bằng những bộ váy jeans trẻ trung có hình thêu bằng lụa và sequins.

    Bộ váy lụa xanh thêu hoa tuyệt đẹp của Dior couture từng đượcNicole Kidman diện tại Lễ trao giải Oscar 1997.

    Có thể thấy hiện nay, thêu là họa tiết ‘đinh’ của Valentino, Dolce & Gabbana và Oscar dela Renta. Trong khi Valentino thể hiện trình độ thêu khó đỉnh cao trên chất liệu xuyên thấu, mỏng manh như váy tuyn hoặc voan thì Dolce & Gabbana thể hiện trình độ thêu của mình trên chất liệu ren và lưới. Bên cạnh đó, Emilio Pucci cũng gây ấn tượng với kỹ thuật thêu trên vải da lộn.

    Kỹ thuật thêu trên chất liệu mỏng như nước của Valentino đã đạt đến mức thượng thừa.

    Valentino thể hiện kỹ thuật thêu tinh xảo, sắc nét trên nhiều chất liệu.

    Chi tiết thêu chỉ vàng trên chất liệu xuyên thấu vô cùng sang trọng của Valentino 

    Thiết kế thêu hoa rực rỡ đẹp mắt của Naeem Khan thu đông 2017

    Dolce & Gabbana thể hiện kỹ thuật thêu trên rât nhiều chất liệu, đặc biệt là ren, lưới, lụa và vải gấm.

    Emilio Pucci thêu trên chất liệu da lộn

    Sau tất cả, điều mà chúng tôi ao ước là kể cho các bạn nghe câu chuyện về từng nghệ nhân thêu xứ mình, với đôi bàn tay khéo léo và tâm hồn thanh tịnh đã gìn giữ môn nghệ thuật truyền thống của chúng ta qua hàng thế kỷ. Chúng tôi sẽ cùng góp một phần bé nhỏ trên hành trình tiếp tục thêu nên bức tranh Tú sinh động cho chúng ta, cho hôm nay, cho ngày mai. 

    Tài liệu tham khảo

    Trương Nam - Shanghai International Studies University

    https://baothuathienhue.vn

    https://tttt.ninhbinh.gov.vn/du-lich

    https://baophutho.vn

    https://riba.vn

    http://xqvietnam.com

    Wikipedia 

     

    Đang xem: Lòng như gấm, miệng như thêu

    Viết bình luận

    This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
    0 sản phẩm
    0₫
    Xem chi tiết
    0 sản phẩm
    0₫
    Đóng